Trốn đóng BHXH - Thực tiễn và kinh nghiệm giải quyết ở một số nước

05:57

Ths. Tôn Thị Thanh Huyền
Khoa Bảo hiểm – ĐH KTQD
Đã đăng tạp chí BHXH, Số tháng 9/2010- Kỳ 2 và Số tháng 10/2010- Kỳ 1

Trốn đóng BHXH xảy ra ở khắp nơi trên thế giới, kể cả ở các hệ thống BHXH của các nước phát triển. Mục đích và yêu cầu đặt ra đối với các tổ chức BHXH trong công tác quản lý BHXH do vậy là phải đảm bảo được sự tuân thủ pháp luật về đóng góp BHXH phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của từng nước. Bài viết này tìm hiểu kinh nghiệm giải quyết vấn đề trốn đóng BHXH của một số nước trên thế giới. Những kinh nghiệm này cũng thực sự quý báu cho các nhà quản lý BHXH ở Việt Nam.

Cơ sở  pháp lý để xác định trốn đóng BHXH

Trong hệ thống BHXH bắt buộc, nghĩa vụ và trách nhiệm đóng góp được cụ thể hoá trong các qui định luật và dưới luật. Đây chính là căn cứ pháp lý để có thể xác định được các trường hợp trốn đóng BHXH và ở mức độ nào.  
Cơ sở pháp lý đầu tiên phải nhắc đến là qui định các đối tượng phải tham gia BHXH. Pháp luật BHXH các nước sẽ qui định cụ thể các nhóm người lao động và người người sử dụng lao động phải thực hiện đăng ký tham gia và đóng góp vào quĩ BHXH. Căn cứ thứ hai là các qui định về mức đóng BHXH bắt buộc. Người lao động phải đóng theomột tỷ lệ phần trăm nhất định so với lương được BHXH, còn người sử dụng lao động phải đóng theo một tỷ lệ phần trăm nhất định so với tổng quĩ lương được BHXH. Trong quản lý BHXH, trên cơ sở kiểm tra đối chiếu thực tế với các qui định này, có thể xác định được các hình thức trốn đóng và mức trốn đóng cụ thể. Một cơ sở pháp lý nữa để xác định trốn đóng là qui định về thời hạn nộpTheo pháp luật BHXH của các nước, người sử dụng lao động phải chuyển tiền đóng BHXH và báo cáo thu nộp BHXH lên cho tổ chức BHXH vào một ngày nhất định. Tuy nhiên, để đảm bảo tính linh hoạt hợp lý, phần lớn các nước đều giới hạn thời gian thanh toán tính từ ngày qui định phải nộp tiền đóng BHXH. Đây là thời gian gia hạn hay ân hạn. Nếu quá thời hạn này, người tham gia BHXH bắt buộc vẫn chưa chuyển tiền BHXH và bản báo cáo thu nộp thì tự động được coi là vi phạm pháp luật BHXH và bị xử phạt.

Các hình thức trốn đóng bảo hiểm xã hội

Hiểu một cách rộng nhất, trốn đóng BHXH là không thanh toán khoản tiền BHXH phải nộp theo quy định. Để trốn đóng BHXH, các đối tượng tham gia có nhiều hình thức cụ thể với mức độ tinh vi khác nhau.
Hình thức trốn đóng BHXH rõ ràng nhất là các đối tượng thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc hoàn toàn không đăng ký tham gia BHXH. Hình thức này rất dễ nhận thấy ở những nước mà sự cưỡng chế tuân thủ luật không hề có hiệu quả, trốn đóng BHXH diễn ra tràn lan. Có các trường hợp chủ sử dụng lao động đăng ký BHXH rồi nhưng lại không chuyển tiền đóng BHXH. Chẳng hạn như ở Brazil chỉ trong một vài năm, mặc dù các doanh nghiệp đã đăng ký tham gia BHXH nhưng trong số đó vẫn có hơn 50.000 doanh nghiệp không đóng góp bảo hiểm hưu cho người lao động (World Bank, 1994).
Tinh vi hơn và “sáng tạo” hơn là các hình thức trốn đóng một phần. Tức là các đối tượng tham gia BHXH vẫn đăng ký đóng BHXH theo quy định nhưng tìm mọi cách để chỉ đóng một phần so với toàn bộ số tiền phải đóng BHXH theo nghĩa vụ. Trốn đóng một phần là khi thu nhập của người lao động không được khai báo đầy đủ để chỉ đóng một số tiền đóng BHXH nhỏ hơn số tiền BHXH nhẽ ra phải đóng tính theosố thu nhập thực tế mà người lao động nhận được. Hình thức trốn đóng dựa vào khai giảm mức thu nhập về cơ bản thường đòi hỏi có sự cấu kết giữa người lao động và người sử dụng lao động. Trốn đóng một phần ở dạng khác là khi người sử dụng lao động không đóng cho toàn bộ số lao động của mình bằng cách khai giảm số lượng lao động; hoặc khai báo số lượng lao động ít hơn mức qui định phải đóng góp BHXH. Chẳng hạn, nếu luật pháp BHXH qui định doanh nghiệp có từ 10 lao động trở lên mới phải đóng BHXH thì doanh nghiệp chỉ khai báo sử dụng dưới 10 lao động. 
Chậm đóng bằng cách trì hoãn việc kết chuyển tiền đóng BHXH cho cơ quan quản lý thu BHXH cũng được coi là một hình thức trốn đóng (Bailey, C. và Turner, J., 1997; World Bank, 1994). Trong các trường hợp chậm đóng, tệ hại nhất là người sử dụng lao động đã chiết trừ phần đóng góp BHXH của người lao động nhưng vẫn chưa chịu chuyển tiền đóng góp này cùng với phần đóng góp thuộc trách nhiệm của họ cho tổ chức BHXH. Bởi vì, như vậy có nghĩa là người sử dụng lao động lừa gạt, chiếm dụng số tiền đóng BHXH của người lao động. Và mặc dù người lao động đã tuân thủ thực hiện nghĩa vụ của mình song quyền hưởng BHXH của họ có thể bị tước đoạt do hành vi vi phạm của người sử dụng lao động.
Trong nghiên cứu của mình, Clive Bailey và John Turnercòn phân biệt giữa tránh đóng (contribution avoidance) với trốn đóng BHXH (evasion). Họ xác định tránh đóng có mối quan hệ mật thiết với trốn đóng. Tránh đóng BHXH là khi người sử dụng lao động thu xếp, thiết kế các công việc và trả công sao cho người lao động của mình hoặc khi chính bản thân người lao động tự làm cho mình trở thành lao động thuộc khu vực phi chính thức. Bởi vì, ở nhiều nước, BHXH bắt buộc chỉ áp dụng đối với lao động thuộc khu vực chính thức. Do đó, lao động thuộc khu vực phi chính thức sẽ không thuộc nhóm phải đóng BHXH. Chẳng hạn, người sử dụng lao động thuê lao động một cách không chính thức (không đưa vào danh sách bảng lương); hoặc chính người lao động tự khai báo khai báo mình là lao động tự tạo việc làm để tránh đóng BHXH. Tuy nhiên, Ngân hàng thế giới (1994) coi việc né tránh đóng góp như vậy vẫn là một hình thức trốn đóng BHXH.
Vì trốn đóng là hành vi phạm pháp nên các đối tượng tham gia BHXH trốn đóng đều tìm cách che đậy. Điều này khiến cho việc tiếp cận các dữ liệu chính xác về việc trốn đóng nhìn chung không dễ dàng. Tuy vậy, số liệu ước tính về tình hình tuân thủ đóng góp ở một số nước đang phát triển cho thấy có đến 50-60% số tiền đóng BHXH bắt buộc không được thanh toán cho tổ chức BHXH. Trong những năm 1980, tỷ lệ trốn đóng và chậm đóng tăng lên đến 60% ở Brazil. Trốn đóng ước tính là 49% ở Argentina vào đầu những năm 1990 và 33% ở Peru (Nitsch & Scwarzer 1996). Ở Thổ Nhĩ Kỳ, chỉ có 1% thành viên đăng ký là thực hiện đóng góp thường xuyên cho chương trình hưu Bag-Kur dành cho người lao động tự tạo việc làm (World Bank, 1993).

Nguyên nhân và hậu quả của trốn đóng BHXH

Các nguyên nhân dẫn đến không tuân thủ đóng góp BHXH cần phải được nhìn nhận, đánh giá đa chiều và trong mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau của các tác nhân bởi nhiều lý do. Các nguyên nhân có thể là chủ quan từ nhận thức và ý thức của các chủ thể vi phạm, có thể khách quan do các tác động từ môi trường hoạt động của hệ thống BHXH như khung pháp lý BHXH; vai trò của tổ chức công đoàn;… Các nguyên nhân có thể chỉ từ một chủ thể nhưng có thể phát sinh đồng thời từ nhiều chủ thể. Chẳng hạn, trốn đóng có thể là do cấu kết giữa người lao động và người sử dụng lao động.  Một nguyên nhân dẫn đến vi phạm có thể được “cộng dồn” thêm bởi một hay nhiều nguyên nhân khác. Chẳng hạn, một doanh nghiệp có ý thức tuân thủ nghĩa vụ đóng góp BHXH kém lại đang ở trong tình trạng tài chính khó khăn nên càng tìm cách trốn đóng BHXH.
Nguyên nhân từ phía các đối tượng tham gia BHXH tập trung vào 3 nhóm chủ yếu là:
- Nhận thức không đầy đủ về quyền lợi và nghĩa vụ BHXH. Đối tượng chính không tuân thủ pháp luật đóng góp BHXH là người sử dụng lao động. Họ chỉ mới nghĩ đến lợi nhuận hiện tại mà không nhìn thấy vai trò của việc tham gia BHXH cho người lao động trong chính sách nhân sự, có ảnh hưởng đến lợi nhuận tiềm năng của doanh nghiệp. Đối với người lao động, có không ít trường hợp thực sự không biết mình có quyền được hưởng BHXH và tham gia BHXH. Mặt khác, lại cũng có bộ phận người lao động biết quyền và nghĩa vụ BHXH nhưng lại hiểu không thấu đáo. Tiền đóng BHXH là một khoản chiết khấu từ lương nên họ cho rằng số tiền đó chính là nguyên nhân làm giảm thu nhập hiện tại, và không muốn đóng BHXH.
- Ý thức tuân thủ pháp luật BHXH không tốt. Có những người sử dụng lao động có nhận thức về BHXH nhưng vẫn cố tình trống đóng BHXH hoặc chây ỳ. Phần lớn do người sử dụng lao động là các doanh nghiệp không có chiến lược kinh doanh bền vững mà chủ yếu là làm ăn theo kiểu “chộp giật”, chỉ muốn càng thu được nhiều lợi nhuận hiện tại càng tốt. Cách thường làm là trốn đóng BHXH để giảm chi phí.
Mặc dù nhận thấy lợi ích hiển hiện của BHXH đối với bản thân và gia đình nhưng vẫn có một bộ phận người lao động không đóng BHXH. Lý do chunglà mất niềm tin vào hệ thống BHXH. Họ cho rằng tổ chức BHXH quản lý không hiệu quả khoản tiền mà họ đã đóng góp BHXH. Trong cuộc điều tra năm 1996 của Cơ quan Quản lý BHXH Mỹ, kết quả cho thấy chỉ 35% công chúng tin tưởng vào tương lai của hệ thống BHXH (SSA, 1997). Một số ít các trường hợp người lao động trốn đóng do ý thức tuân thủ kém là vì họ không kỳ vọng sống đến khi nhận được tiền hưu. Một vấn đề đáng nói nữa là có những trường hợp, người lao động hay người sử dụng lao động trốn đóng đơn giản chỉ vì họ không thích đóng. Nhất là khi trốn đóng BHXH không bị coi là hành vi phi đạo đức và là hành vi có thể chấp nhận được (Bailey & Turner 1997, WB 1994).
- Tình trạng khó khăn về tài chính
Một số người sử dụng lao động bước đầu khởi sự kinh doanh, vốn ít và còn nhiều khó khăn nên đôi khi lờ đi trách nhiệm và nghĩa vụ BHXH cho người lao động. Khá hơn một chút là họ có đăng ký tham gia BHXH nhưng không đầy đủ, chỉ tập trung cho một số ít người lao động cần thiết. Một số khác lại đang ở trong tình trạng làm ăn suy yếu, có xu hướng thua lỗ, do đó sẽ chây ỳ đóng BHXH hoặc chiếm dụng tiền đóng BHXH để tăng vốn làm ăn. Nguyên nhân này càng bộc lộ rõ trong các giai đoạn khủng hoảng nền kinh tế, lạm phát cao.
Nguyên nhân từ phía tổ chức BHXH gắn với năng lực quản lý. Cụ thể:
- Thiết kế các quy trình nghiệp vụ chưa tốt. Ở các nước có tỷ lệ tuân thủ thấp, qui trình và thủ tục đăng ký BHXH, qui trình thu BHXH, cho đến qui trình xét hưởng chi trả BHXH bị đánh giá còn rườm rà, làm tăng chi phí tuân thủ cho các đối tượng tham gia.
- Thanh kiểm tra BHXH còn hạn chế và chưa phát huy hết chức năng, chưa kiểm soát hết lượng đối tượng tham gia BHXH bắt buộc. Một mặt có thể là do lực lượng thanh tra quá mỏng so với số lượng đối tượng tham gia nên không thể thực hiện thanh tra kiểm tra thường xuyên. Mặt khác có thể là do tư cách đạo đức của thanh tra viên, bị mua chuộc và a tòng với người sử dụng lao động để vi phạm pháp luật.
- Mối quan hệ phối hợp với các bên có liên quan trong quản lý đối tượng tham gia như công đoàn, cơ quan quản lý lao động, các cơ quan liên quan đến việc cấp giấy phép hoạt động cho các doanh nghiệp,… chưa chặt chẽ cũng làm cho mức độ tuân thủ đóng góp BHXH sẽ bị giảm đi.
- Một nguyên nhân sâu xa dẫn đến trốn đóng BHXH của các đối tượng tham gia là hoạt động tuyên truyền giáo dục BHXH còn hạn chế. 
Nguyên nhân trốn đóng BHXH còn xuất phát từ phía môi trường cho hoạt động tuân thủ của các đối tượng tham gia BHXH. Đây là những nguyên nhân mang tính khách quan, tạo thêm cơ chế thuận lợi để các đối tượng dễ dàng không tuân thủ pháp luật (Bailey & Turner 1997, World Bank 1994). Gồm:
-    Qui định chính sách BHXH chưa thật rõ ràng, chưa ổn định và không tạo được sự hấp dẫn nên làm cho người sử dụng lao động và người lao động nhận thức không đầy đủ, thậm chí là hiểu sai về BHXH.
-    Khung pháp lý về BHXH chưa hoàn chỉnh. Chẳng hạn, pháp luật BHXH không qui định rõ về quyền hạn của thanh tra BHXH. Quy định về xử phạt vi phạm về BHXH không đủ mức làm công cụ ngăn chặn vi phạm của người sử dụng lao động.
-    Môi trường kinh doanh cùng với các thay đổi trong chính sách phát triển kinh tế không thuận lợi làm cho người sử dụng lao động có thêm động cơ trốn đóng.
-    Thị trường lao động không cân bằng với cung lớn hơn cầu cũng là một nguyên nhân. Khi số lượng công việc không nhiều, vì vị trí công việc đã có được, người lao động không thể bày tỏ thái độ phản ứng đối với hành vi vi phạm đóng góp BHXH. Khả năng tìm kiếm việc làm của người lao động hạn chế càng dễ dàng cho người sử dụng lao động không tuân thủ đóng góp.
-    Vai trò của tổ chức công đoàn tại các đơn vị sử dụng lao động (đặc biệt là các doanh ngiệp nhỏ) hoặc không có hoặc chưa thực sự phát huy và thậm chí không bảo vệ được quyền lợi BHXH của người lao động.
Trốn đóng BHXH để lại hậu quả nhiều mặt. Trước hết là làm mất công bằng giữa những người đóng góp và những người không đóng góp. Quỹ BHXH không đảm bảo đủ nguồn thu (do trốn đóng nghiêm trọng) có thể đòi hỏi phải cân đối lại bằng cách điều chỉnh tăng tỷ lệ đóng góp bắt buộc. Song, đối với những đối tượng tham gia tuân thủ luật thì điều chỉnh này lại không công bằng vì nó làm cho tỷ lệ đóng góp cao hơn so với mức họ cần phải đóng. Khi người lao động chuyển sang làm việc trong khu vực phi chính thức hoặc chuyển công việc khác để tránh đóng BHXH, các quyết định phân bổ lao động trên thị trường lao động bị biến dạng. Năng suất lao động do đó cũng giảm và làm giảm tăng trưởng kinh tế. Ước tính ở Uruguay năm 1988 cho thấy số giờ làm việc không được báo cáo chiếm hơn 30% tổng số giờ làm việc, và ước tính tổn thất số thu là 3% GDP (World Bank, 1994). Mục đích của các chương trình hưu bắt buộc là đảm bảo cho người dân có một nguồn hỗ trợ nào đó khi về già. Tuy nhiên, trốn đóng BHXH làm cho mục đích này không đạt được. Trong trường hợp tồi tệ nhất, trốn đóng có thể làm cho hệ thống BHXH rơi vào các tình trạng khó khăn tài chính nghiêm trọng. Ở một số nước châu Mỹ Latinh và châu Á, tình trạng này đã làm cho hệ thống BHXH sụp đổ vì thu của hệ thống thấp hơn rất nhiều so với mức cần có để đáp ứng nhu cầu chi trả trợ cấp. Tỷ lệ trốn đóng cao đến mức 50% ở Argentina đã làm cho chương trình hưu rơi vào tình trạng thâm hụt trầm trọng, cộng thêm gánh nặng cho ngân sách nhà nước và cuối cùng thì dẫn đến việc phải áp dụng một hệ thống mới. Nhiều nước rơi vào vòng luẩn quẩn giống nhau về mất mát niềm tin và gia tăng tỷ lệ trốn đóng, làm tê liệt tài chính BHXH như Argentina, Brazil, Thổ Nhĩ Kỳ, một số nước Đông Âu (Bailey & Turner, 1997).

Giải quyết vấn đề trốn đóng BHXH

Không tuân thủ đóng góp BHXH diễn ra ở nhiều nước và gây ra nhiều hậu quả cả hiện tại và lâu dài đối với hệ thống BHXH của các nước. Chính vì vậy,  đã có nhiều nghiên cứu và bàn luận nhằm tìm cách hạn chế tình trạng này.

Giáo dục nhận thức về BHXH

Theo Giáo sư Noriyasu Watanabe (2006), chủ tịch Viện nghiên cứu Quốc tế về trợ cấp hưu của Nhật Bản, đào tạo và giao tiếp với công chúng là một biện pháp tích cực để các đối tượng tham gia hiểu và có ý thức hơn trong việc tham gia BHXH, từ đó nâng cao mức tuân thủ đóng góp. Để đạt được kết quả lâu dài trong việc tuân thủ đóng góp BHXH, tổ chức BHXH cần thực hiện tuyên truyền về BHXH, triển khai các chiến dịch “marketing” để nâng cao nhận thức công chúng về BHXH. Các biện pháp giáo dục nhận thức công chúng như thế này sẽ tạo ra được nhu cầu tham gia BHXH thay vì cưỡng chế (Pontjowinoto, 2006). Tổ chức BHXH Jordan hợp đồng với một công ty quảng cáo chuyên nghiệp để thực hiện chiến dịch truyền thông của mình. Chiến dịch này nhấn mạnh tầm quan trọng của cam kết thực hiện đóng góp; các bất lợi đối với người sử dụng lao động khi việc không khai báo đầy đủ về số lượng lao động, báo cáo không đầy đủ tiền lương của người lao động; và các hậu quả pháp lý nếu trốn đóng BHXH.

Phối kết hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng khác có liên quan

Đây cũng là kinh nghiệm của nhiều nước nhằm đạt được mức tuân thủ đóng góp BHXH cao hơn. Đặc biệt, trong các tổ chức có liên quan, tất cả các nước đều nhấn mạnh đến vai trò của tổ chức công đoàn. Chẳng hạn, PT JAMSOSTEK (Inđônêxia) ký hợp tác với các liên đoàn lao động để phổ biến thông tin về các chương trình BHXH cho người lao động (Pontjowinoto, 2006).

Tăng cường vai trò và quyền lực của thanh tra BHXH

Thanh tra đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong hoạt động tuân thủ. Pháp luật BHXH ở nhiều nước có các quy định rõ thẩm quyền của thanh tra BHXH để kiểm tra và thậm chí là thực hiện cưỡng chế ban đầu đối với các trường hợp không tuân thủ đóng góp BHXH. Họ có quyền kiểm tra các tài khoản, bảng cân đối, sổ sách báo cáo tài chính liên quan đến đặc điểm công việc, số lượng lao động, lương của người lao động, phương thức tính và chi trả lương. Theo Luật ASXH của Jordani, Tổng Giám đốc hoặc nhân viên của tổ chức BHXH được Tổng Giám đốc uỷ quyền có tư cách của cảnh sát thi hành án, được thu tập bất kỳ tài liệu nào liên quan đến việc trốn đóng BHXH. Để hạn chế và phòng tránh việc ăn hối lộ của thanh tra viên, các tổ chức BHXH áp dụng nhiều biện pháp khác nhau để động viên thanh tra BHXH. Ví dụ, ở Syriathanh tra được trả trợ cấp ngoài giờ. Trong khi đó, thanh tra ở Yemen được cấp một khoản tiền thưởng liên quan đến công việc đã làm được cộng thêm lệ phí đi lại. Jordancấp một khoản tiền hàng tháng cho thanh tra của họ tương đương với 103$, trong khi ở Kuwaitkhoản tiền này là 346$.

Tăng cường tính hiệu lực và thực thi các chế tài BHXH

Truy thu tiền đóng BHXH và xử phạt. Kể từ khi hết thời gian ân hạn qui định, tổ chức BHXH thực hiện truy thu tiền đóng BHXH và cả số tiền lãi từ trốn đóng BHXH. Mức tiền lãi xác định theo lãi suất tiền vay quá hạn do Ngân hàng Nhà nước qui định tại thời điểm truy nộp; hoặc lãi suất hoạt động đầu tư quĩ BHXH trong năm. Ngoài khoản truy thu cả tiền nợ BHXH lẫn tiền lãi, các tổ chức BHXH còn thực hiện phạt đối với các trường hợp vi phạm. Khoản tiền phạt được tính theo một tỷ lệ phần trăm cố định so với số tiền đóng BHXH hàng tháng và tính trên cơ sở tích luỹ. Tỷ lệ tiền phạt phải cao hơn lãi ngân hàng để đảm bảo tính răn đe đối với người vi phạm. Ở Ả rập Xêut, trong 15 ngày đầu của tháng, nếu không thanh toán trong thời gian đó thì người sử dụng lao động sẽ phải nộp một khoản tiền phạt vì sự chậm trễ bằng 2% khoản tiền đóng góp chưa nộp cho một tháng hoặc theo phần thời gian chậm trễ trong tháng. Người sử dụng lao động nào không tuân thủ bất kỳ một điều khoản luật nào sẽ bị phạt một khoản không dưới 1334$.
Truy tốCác trường hợp chậm đóng, trốn đóng ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của người lao động đòi hỏi phải có hành động pháp lý mạnh hơn là truy tố ra trước pháp luật. Biện pháp này không những đảm bảo mang lại quyền lợi cho những người lao động mà còn có tác động răn đe đối với các kẻ tội phạm tiềm ẩn khác. Tuy nhiên, khi áp dụng biện pháp này, tổ chức BHXH cần phải có đủ chứng cứ và hiểu biết rõ các thủ tục pháp lý liên quan để đảm bảo truy tố thành công đối với các trường hợp phạm tội. Nếu vi phạm đóng góp của người sử dụng lao động đặc biệt nghiêm trọng, một số nước còn thực hiện truy cứu trách nhiệm hình sự.
Các biện pháp kết hợp khác. Để thực hiện cưỡng chế tuân thủ đóng góp đạt kết quả, các tổ chức BHXH còn có thể thực hiện thêm nhiều biện pháp khác như phong toả tài khoản; đình chỉ hoạt động; thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Hoàn thiện môi trường cho hoạt động tuân thủ

Để hoạt động tuân thủ đóng góp đạt được  mức cao, khung pháp lý cho hoạt động BHXH phải đảm bảo hoàn thiện và vững chắc. Các qui định pháp lý về BHXH phải tối thiểu hoá được các vướng mắc và không rõ ràng về trách nhiệm, ngày đến hạn chuyển khoản, v.v… cũng như làm rõ được các hình thức phạt (chế tài) đối với các trường hợp không tuân thủ pháp luật.

Nhìn lại Việt Nam

Tình trạng trốn đóng BHXH ở nước ta hiện nay đang là vấn đề nổi cộm trong quản lý BHXH. Theo số liệu từ BHXH Việt Nam, bình quân từ năm 2006 đến nay, nợ chậm đóng BHXH chiếm khoảng từ 6,5% -7% so với tổng số thu mỗi năm. Khoản nợ BHXH khó đòi[1] tính đến 30/6/2009 là 537 tỷ đồng. Nguyên nhân có nhiều, cả khách quan và chủ quan. Mặc dù đã có các biện pháp nhất định để khắc phục tình trạng này nhưng dường như chưa thực sự có biến chuyển. Tỷ lệ tham gia BHXH bắt buộc vẫn còn thấp. Các kinh nghiệm giải quyết trốn đóng ở một số nước là những gợi ý thiết thực cho tổ chức BHXH Việt Nam; Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, và Chính phủ trong vấn để này.

TÀI LIỆU THAMKHẢO:

1.      Bailey, C. & Turner J. (1997), Contribution evasion and social security: causes anh remedies, ILO, Geneva
2.      World Bank (1993), The Turkish Pension System, WashingtonD.C.
3.      World Bank (1994), Averting the old age crisis- policies to protect the old and promote growth, Brief Issue 7 – Evasion, Oxford University Press.
4.      SSA (1997), Increasing Public Understanding of Social Security, Social Security Advisory Board, America.
5.      Pontjowinoto, I. P. (2006), Administrative innovations to improve compliance and enforcement: The Indonesian case, ISSA Regional Conference for in Asia aAsia and the Pacific  New Delhi, India, 21 – 23 November 2006.
6.      Watanabe, N. (2006), Administrative innovations to improve compliance and enforcement: Promoting compliance in social security pension programmes, ISSA Regional Conference for in Asia Asia and the Pacific  New Delhi, India, 21 – 23 November 2006.




[1] Do người sử dụng lao động cố tình chây ỳ chậm đóng kéo dài thời gian từ 6 tháng trở lên.

You Might Also Like

0 nhận xét

Popular Posts

Like us on Facebook

Flickr Images