QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BHXH
10:12
CHƯƠNG 10, Bài giảng Quản lý
Bảo hiểm xã hội
I. Giới thiệu
chung
Quản lý Nhà nước là một dạng quản lý
xã hội (con người quản lý con người) đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và
sử dụng pháp luật Nhà nước để điều chỉnh hành vi hoạt động của con người trên
tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội do cơ quan trong bộ máy Nhà nước thực
hiện, nhằm thoả mãn nhu cầu hợp pháp của con người, duy trì sự ổn định và phát
triển của xã hội. Quản lý Nhà nước bao gồm 3 loại hoạt động: hoạt động lập pháp;
hoạt động hành pháp; và hoạt động tư pháp. Trong đó, hoạt động hành pháp, còn
được gọi là Quản lý Hành chính Nhà nước, là
hoạt động có tổ chức, có điều chỉnh bằng quyền lực pháp luật Nhà nước đối với
quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người do các cơ quan trong Chính
phủ từ Trung ương đến cơ sở tiến hành để thực hiện các chức năng nhiệm vụ của
Nhà nước nhằm duy trì và phát triển cao các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp
luật, thoả mãn nhu cầu hợp pháp của con người trong công cuộc xây dựng và bảo vệ
tổ quốc. Đây là một hoạt động Quản lý Nhà nước nhằm thực thi quyền hành pháp của
Nhà nước (tức là quyền lập qui và quyền hành chính). Tuy nhiên, do hoạt động
Quản lý Hành chính Nhà nước trải rộng và gắn bó trực tiếp với việc thực hiện quá
trình xã hội nên đôi khi có sự nhầm lẫn coi Quản lý Hành chính nhà nước là Quản
lý Nhà nước hay nói Quản lý Nhà nước là muốn nói đến Quản lý Hành chính Nhà
nước.
Quản lý Nhà nước về BHXH là
hoạt động Quản lý Nhà nước nhằm mục đích điều chỉnh hành vi hoạt động của con
người trong lĩnh vực BHXH. Một cách cụ thể hơn, quản
lý nhà nước về BHXH là quá trình tác động và điều hành của Nhà nước vào hoạt
động BHXH sao cho hoạt động này diễn ra theo đúng quy định của pháp luật, đồng
thời làm cho BHXH phát huy được tác dụng và phục vụ mục đích mà Nhà nước đã đề
ra.
Quản lý Nhà nước về BHXH xuất phát từ chức năng và vai
trò quản lý xã hội của Nhà nước. Trước hết, Nhà nước có tư cách là chủ thể điều
hoà mối quan hệ lợi ích đối lập giữa người lao động và người sử dụng lao động.
Sự hình thành và phát triển của BHXH trên khắp thế giới luôn gắn liền với mối
quan hệ lao động vốn có mâu thuẫn đối kháng nhau và đòi hỏi có sự can thiệp của
Nhà nước. Với tư cách là trọng tài trong mối quan hệ này, sự can thiệp của Nhà
nước đầu tiên thể hiện qua việc xây dựng và ban hành các chính sách về BHXH gắn
kết quyền lợi và nghĩa vụ của cả người lao động và người sử dụng lao động. Quá
trình xây dựng, điều hành và giám sát hoạt động của hệ thống BHXH của Nhà nước
còn hướng đến việc đảm bảo lợi ích hợp pháp của các bên tham gia bảo hiểm xã hội
và giải quyết các mâu thuẫn có thể nảy sinh giữa các bên.
Hơn nữa, thực hiện quản lý nhà nước về BHXH còn là để bảo
vệ quyền lợi của nhóm người có vị thế yếu hơn trong mối quan hệ lao động, đó là
người lao động. Mặc dù sự can thiệp của Nhà nước qua chính sách BHXH là vì lợi
ích của cả hai bên trong mối quan hệ lao động. Song với vị thế yếu hơn nên rõ
ràng người lao động sẽ được bảo vệ hơn. Cũng chính vì vậy, ở hầu hết các nước
trên thế giới, BHXH được
xác định một chính sách xã hội quan trọng vì nó liên quan đến đời sống của đông
đảo người lao động và gia đình họ. Khi phạm vi các đối tượng nằm
trong diện bảo vệ của hệ thống BHXH càng được mở rộng thì càng cần có sự tác
động quản lý của Nhà nước bởi Nhà nước được coi là người cuối cùng chịu trách
nhiệm phúc lợi kinh tế và xã hội cho toàn bộ dân
cư.
Cuối cùng, quỹ BHXH là một quỹ tài chính rất lớn nhằm đảm
bảo quyền lợi được chi trả của người lao động. Quỹ BHXH là một bộ phận của hệ
thống tài chính quốc gia có ảnh hưởng qua lại với các bộ phận khác trong hệ
thống và có vai trò quan trọng trong sự phát triển của nền tài chính quốc gia.
Để bảo toàn và tăng trưởng quỹ, từ đó đảm bảo cho việc sử dụng quỹ có hiệu quả
cao nhất và hoàn thành đúng vai trò chức năng của quỹ trong hệ thống tài chính
quốc gia, cần thiết phải có sự giám sát quản lý của Nhà nước đối với hoạt động
của Quỹ BHXH. Không những vậy, Nhà nước còn có thể bảo hộ cho sự tồn tại và hoạt
động của quỹ tài chính BHXH. Đặc biệt, trong thời kỳ có suy thoái kinh tế hoặc
khi tài chính BHXH có khủng hoảng thì Nhà nước là người đầu tiên có trách nhiệm
định hướng và chỉ đạo thực hiện các biện pháp bảo toàn giá trị cho quỹ
BHXH.
Tóm lại, Nhà nước quản lý BHXH để bảo đảm cho hoạt động
BHXH thực sự có lợi ích cho toàn xã hội ở mức cao nhất. Đồng thời, đảm bảo cho
hoạt động BHXH đi đúng hướng và nhất quán theo chính sách xã hội, phục vụ cho sự
nghiệp phát triển và an sinh xã hội của quốc
gia.
II. Nội dung Quản lý Nhà nước về
BHXH
1. Hoạch định
chính sách và định hướng phát triển
BHXH
Việc hoạch định chính sách, chế độ BHXH là khâu đầu tiên
và quan trọng nhất của công tác Quản lý Nhà nước về BHXH. Nhìn chung, hệ thống
chính sách và chế độ BHXH được Nhà nước xây dựng theo hướng đầy đủ, thống nhất
trong phạm vi cả nước. Chính sách BHXH đưa ra đều liên quan và hoà hợp với các
chính sách về quản lý, sử dụng lao động; về thu nhập, thuế và an sinh xã hội. Cụ
thể, khi hoạch định chính sách và định hướng cho sự phát triển của hệ thống
BHXH, Nhà nước sẽ phải xác định được hình thức thực hiện BHXH tự nguyện hay bắt
buộc; Phạm vi đối tượng tham gia BHXH; Các loại chế độ BHXH thực hiện phù hợp
với các đối tượng tham gia khác nhau; nguồn thu và việc sử dụng quĩ BHXH; Mức
trợ cấp và điều kiện hưởng trợ cấp
BHXH.
Các chính sách BHXH được xây dựng trong khuôn khổ các kế
hoạch kinh tế-xã hội, theo những mối quan tâm ưu tiên khác nhau; phù hợp với
trình độ kinh tế, văn hoá, xã hội từng thời kỳ. BHXH là một phạm trù lịch sử,
luôn luôn vận động và phát triển không ngừng. Vì thế cho đến ngày nay, trên thế
giới chưa có một mô hình chuẩn về BHXH. Trong các Công ước của ILO cũng chỉ đưa
ra những tiêu chuẩn khung, chính sách khung và khuyến nghị các nước thành viên,
tùy theo điều kiện kinh tế-xã hội của quốc gia mình mà áp dụng cho phù hợp. Ngay
trong một quốc gia, trong mỗi giai đoạn phát triển, BHXH lại có mục tiêu và
nhiệm vụ khác nhau,… Vì vậy, Nhà nước phải thực hiện việc nghiên cứu, tổng kết
thực tiễn để không ngừng hoàn thiện hệ thống chính sách, chế độ BHXH sao cho
chính sách BHXH ngày càng phát triển, thiết thực hơn đối với nhiều người lao
động trong xã
hội.
2. Xây dựng hệ thống pháp luật
về BHXH
Hệ thống pháp luật BHXH là cơ sở pháp lý cho hoạt động
BHXH của một nước bao gồm luật, các văn bản dưới luật về BHXH. Luật là những văn
bản quy phạm pháp luật có tính pháp lý cao nhất và là công cụ quản lý vững chắc
nhất mà mọi tổ chức, cá nhân phải tuân thủ. Nhà nước có trách nhiệm xây dựng hệ
thống pháp luật về BHXH và ban hành việc thực hiện chúng trong phạm vi cả
nước.
Việc xây dựng hệ thống pháp luật về BHXH có khác nhau tùy
thuộc vào tình hình kinh tế - chính trị - xã hội của mỗi nước. Các qui định luật
về BHXH có thể được đặt trong một luật chung như Luật Lao động, Luật Công chức,
Luật Dân sự, hay Luật Quân nhân… Có nhiều nước ban hành riêng luật về BHXH để
điều chỉnh các mối quan hệ liên quan đến hoạt động BHXH. Luật BHXH do Quốc hội
thông qua và có phạm vi áp dụng trong cả nước. Những nước có tổ chức theo Bang
thì Luật có thể do Quốc hội Bang thông qua nhưng không được trái với các điều
luật của Liên bang. Ngoài luật về BHXH, Nhà nước còn ban hành các văn bản dưới
luật về BHXH nhằm giải thích rõ, hướng dẫn cụ thể việc thi hành về một số nội
dung, vấn đề có liên quan đến lĩnh vực
BHXH.
3. Xây dựng cơ chế tài chính
BHXH
Để đảm bảo cho quyền lợi của các đối tượng thụ hưởng BHXH
và đồng thời lành mạnh hóa nền tài chính quốc gia, Nhà nước sẽ là người xây dựng
cơ chế tài chính cho hoạt động của hệ thống BHXH, cụ
thể :
+ Xác định hình thức cân đối thu chi của quĩ tài chính
BHXH;
+ Xác định cách thức tổ chức và quản lý quỹ tài chính
BHXH;
+ Xác định trách nhiệm đóng góp và mức hưởng
BHXH;
+ Định hướng đầu tư để bảo tồn và tăng trưởng
quỹ;
4. Bảo hộ và bảo trợ cho hoạt
động BHXH
Dù hoạt động với mô hình khác nhau như thế nào thì BHXH
của tất cả các nước trên thế giới đều nhằm bảo đảm an sinh xã hội. Vì vậy, Nhà
nước luôn luôn thực hiện bảo hộ và bảo trợ cho các hoạt động BHXH, tránh không
bị ảnh hưởng trước những biến động về kinh tế-xã hội; đặc biệt là những biến
động về tài chính. Điều này đặc biệt quan trọng đối với những nước có nền kinh
tế chưa phát triển, lạm phát còn cao. Tuy nhiên, sự bảo hộ và bảo trợ của Nhà
nước về nguyên tắc hoàn toàn không phải là sự bao cấp, bù đắp thất thoát mà là
tạo điều kiện để chính sách BHXH thực sự có hiệu quả. Thể hiện ở một số điểm
sau:
+ Bảo đảm giá trị của quỹ tài chính BHXH trong các tài
khoản tại ngân hàng để bảo đảm mức chi trả trợ cấp BHXH cho các đối tượng hưởng
BHXH trước những biến động chính trị - kinh tế-xã
hội;
+ Bảo hộ cho quỹ tài chính BHXH trong các hoạt động đầu
tư bảo toàn và tăng trưởng quỹ. Nhà nước ưu tiên cho quỹ tài chính BHXH được đầu
tư phần nhàn rỗi vào những lĩnh vực an toàn, rủi ro thấp nhất và thuận lợi khi
thu hồi vốn để kịp thời chi trả các khoản chi BHXH khi có nhu cầu lớn; không
đánh thuế hoặc đánh thuế thấp đối với các dự án đầu tư của quỹ tài chính BHXH;
hỗ trợ về tài chính cho quỹ tài chính BHXH trong những trường hợp quỹ bị thâm
hụt vì những lý do bất khả
kháng,…
5. Kiểm tra, thanh tra các hoạt
động sự nghiệp
BHXH
Nhà nước thực hiện kiểm tra, kiểm soát việc triển khai
BHXH cho người lao động đúng theo qui định của pháp luật về BHXH. Cụ thể là
về:
+ Việc thực hiện nghĩa vụ tham gia BHXH của các bên có
liên quan;
+ Chế độ BHXH của cơ quan BHXH đối với người lao
động;
+ Các hoạt động tài chính của cơ quan
BHXH;
+ Giải quyết các khiếu nại, tranh chấp BHXH. Đây là một
trong những hoạt động có tính thường xuyên của Quản lý Nhà nước về
BHXH.
Để có được những thông tin cần thiết phục vụ cho công tác
quản lý này, cơ quan Quản lý Nhà nước về BHXH có thể ban hành quy định chế độ
báo cáo và chế độ thống kê. Các chế độ báo cáo này được quy định đối với các
doanh nghiệp, cơ quan Quản lý Nhà nước về BHXH cấp dưới, các cơ quan liên quan
đến lĩnh vực BHXH,… Tùy theo từng cơ quan mà quy định những nội dung báo cáo
khác nhau. Chế độ báo cáo được quy định như: báo cáo nhanh, báo cáo tháng, báo
cáo quý, báo cáo 6 tháng, báo cáo năm, báo cáo thanh tra, kiểm
tra,…
6. Xây dựng tổ chức hệ thống
BHXH
Cơ chế tổ chức hệ thống BHXH được Nhà nước xác định trên
cơ sở phù hợp với giai đoạn phát triển và trình độ quản lý của bộ máy Nhà nước
nói chung và bộ máy BHXH nói riêng. Tổ chức hệ thống BHXH lúc này có thể được
hình thành theo 2 cấp quản lý hoặc 3 cấp quản lý từ Trung ương đến các địa
phương.
III. Cơ quan Quản lý Nhà nước về
BHXH
Theo Công ước số 102 (1952) về An sinh xã hội, các nước
tham gia Công ước sẽ chịu trách nhiệm quản lý chung đối với các tổ chức và dịch
vụ liên quan đến BHXH một cách thích hợp. Do điều kiện kinh tế-xã hội và thể chế
chính trị khác nhau nên cơ cấu tổ chức các cơ quan quyền lực của các nước nhìn
chung khác nhau. Vì vậy, qui định về cơ quan quản lý nhà nước về BHXH ở mỗi nước
có những điểm khác
nhau.
1. Mô hình
1
Tại nhiều quốc gia trên thế giới, chức năng Quản lý Nhà
nước về BHXH được uỷ quyền cho một Bộ nào đó có liên quan. Chẳng hạn như ở Cu
Ba, Tây Ban Nha, Mêhicô, Thổ Nhĩ Kỳ, và một số nước châu Mỹ Latinh thì trách
nhiệm này được giao cho Bộ Lao động. Ở các nước như Đức, Irắc, Ixaren, Chilê thì
Bộ Lao động và Phúc lợi xã hội là cơ quan quản lý nhà nước về BHXH. Cá biệt có
một số nước lại giao trách nhiệm quản lý nhà nước về BHXH cho Bộ Tài chính; Bộ Y
tế; hoặc Bộ Nội
chính;...
Trong mô hình tổ chức hệ thống BHXH ở một số nước, hoạt
động BHXH không tập trung thống nhất trong một hệ thống chung của cả nước. Thay
vào đó, có thể có các hệ thống BHXH riêng cho từng nhóm người lao động hoặc
riêng cho từng nhóm chế độ BHXH. Với những nước có các hệ thống BHXH riêng như
vậy, trách nhiệm quản lý nhà nước về BHXH có thể được giao cho nhiều cơ quan
khác nhau. Mỗi cơ quan quản lý nhà nước này liên quan đến hoạt động BHXH của một
hoặc một số hệ thống BHXH trong nước. Chẳng hạn, ở Hàn Quốc, quản lý nhà nước
đối với hệ thống BHXH liên quan đến các chế độ hưu tuổi già, tàn tật, tử tuất,
ốm đau, và thai sản thuộc về trách nhiệm của Bộ Y tế và Phúc lợi, còn đối với
chế độ bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp và hệ thống bảo hiểm thất
nghiệp thì trách nhiệm quản lý nhà nước lại là của Bộ Lao
động.
Cũng theo Công ước 102, nếu việc quản lý được uỷ quyền
tách ra khỏi quản lý cấp Nhà nước (chính phủ) thì các đại diện của những người
lao động được bảo vệ sẽ tham gia việc quản lý hoặc liên quan chặt chẽ với việc
quản lý với tư cách là một đại diện.[1]Như
vậy, trong mô hình mà chức năng Quản lý Nhà nước về BHXH được ủy quyền cho một
Bộ thực hiện thì sẽ thiết lập một Hội đồng quản lý BHXH nhằm giám sát chỉ đạo
trực tiếp các hoạt động của cơ quan BHXH cũng như hoạt động đầu tư quản lý quỹ
tài chính BHXH. Ngoài ra Hội đồng còn tham gia những ý kiến tư vấn cho Bộ chủ
quản trong việc xây dựng và phát triển chính sách
BHXH.
Thành phần của Hội đồng quản lý BHXH
gồm:
+ Đại diện các cơ quan Nhà nước có liên quan như Bộ Tài
chính, Ngân hàng Nhà nước, Kho bạc,
…
+ Đại diện của người lao động và đại diện của người sử
dụng lao động. Đại diện của người lao động thường do Liên đoàn Lao động và đại
diện của người sử dụng lao động do các tổ chức của người sử dụng lao động lựa
chọn hoặc tiến cử. Các đại diện này cũng có có thể do Bộ chủ quản bổ nhiệm sau
khi có sự cố vấn của Liên đoàn Lao động và các tổ chức của người sử dụng lao
động.
+ Tổng Giám đốc (hoặc Giám đốc) của cơ quan
BHXH.
2. Mô hình
2
Có nước lại lập ra một Uỷ ban riêng trực thuộc chính phủ
gọi là Uỷ ban BHXH hoặc Uỷ ban An sinh xã hội trong đó có
BHXH.
IV. Quản lý Nhà nước về BHXH ở
Việt Nam
Bảo hiểm xã hội là một chính sách kinh tế - xã hội quan
trọng của Nhà nước ta. Do đó, gắn với lịch sử hình thành và phát triển của BHXH
Việt Nam, Nhà nước luôn có vai trò đặc biệt và là nhân tố có ảnh hưởng rất lớn
tới định hướng phát triển của ngành. Cho đến nay, hoạt động BHXH ở nước ta không
ngừng phát triển cả về nội dung và hình thức tổ chức thực hiện, theo hướng mở
rộng quyền lợi cho người lao động và xã hội hóa. Tuy nhiên, không phải vì thế
vai trò của Nhà nước bị giảm đi. Thông qua các chức năng lập pháp, hành pháp và
tư pháp, Nhà nước xây dựng các chính sách, pháp luật về BHXH đồng thời thực hiện
việc định hướng, quản lý và điều hành các hoạt động BHXH theo khuôn khổ pháp
luật.
Trước 1995, chức năng quản lý Nhà nước không tách biệt
với chức năng quản lý hoạt động sự nghiệp BHXH. Bộ Lao động, Thương binh và Xã
hội vừa là cơ quan xây dựng ban hành chính sách BHXH vừa là người chịu trách
nhiệm trực tiếp giải quyết cho người lao động. Tình trạng quản lý “vừa đá bóng,
vừa thổi còi” như vậy đã dẫn đến các vi phạm nghiêm trọng chính sách BHXH, gây
thất thoát cho NSNN, vi phạm quyền lợi người lao
động.
Phù hợp với đổi mới cơ chế quản lý kinh tế của Nhà nước,
chính sách và cơ chế BHXH ở nước ta cũng được đổi mới cơ bản. Một mặt, chính
sách BHXH được tách bạch rõ ràng với các chính sách khác, không để lẫn lộn như
trước đây. Mặt khác, hoạt động quản lý BHXH ở nước ta đã được xác lập lại. Cùng
với việc thành lập một cơ quan chuyên trách về quản lý hoạt động sự nghiệp là
BHXH Việt Nam (1995) thì chức năng quản lý Nhà nước đã được phân biệt rõ ràng
với quản lý hoạt động sự nghiệp BHXH. Việc làm rõ chức năng như vậy đã chấm dứt
tình trạng lỏng lẻo, trùng lặp, gây nên những thiếu sót, sai phạm trong quá
trình thực
hiện.
- Charlotte Roy, 1998, New management practices in Social Security - Paper for the Conferrence on “Pension System in Asia” by ADB and the Pacific Pension Institute, Manila, Philippines, 3-5th Dec. 1998.
- Đinh Công Tuấn (Chủ biên), (2008), Hệ thống An sinh xã hội của EU và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội.
- ILO, (1998), Social Security Management, International training centre of the ILO, Turin, Italy.
- MOLISA, 2001, BHXH - Những điều cần biết, NXB Thống kê, Hà nội.
- Nguyễn Văn Phần & Đặng Đức San, 1995, Tìm hiểu về chế độ BHXH mới, NXB Tp Hồ Chí Minh.
[1] ILO,
1952, Công ước 102 Qui định chuẩn mực về ASXH, Điều
72.
0 nhận xét