Social Insurance
Tiếp tục đổi mới nhận thức về bảo hiểm xã hội trong sự nghiệp phát triển An sinh xã hội ở nước ta
00:41Chính sách bảo hiểm xã hội (BHXH) ở nước ta đã được thực hiện từ đầu những năm 1960 thế kỷ trước nay đã hoàn thiện dần với cả hình thức bắt buộc và tự nguyện để đáp ứng nguyện vọng của mọi người lao động. Do vậy, việc hiểu thế nào là BHXH không phải là mới. Tuy nhiên, trong hoạt động thực tiễn cũng như trong nghiên cứu, thuật ngữ bảo hiểm xã hội (Social Insurance) đôi khi vẫn sử dụng lẫn lộn với An sinh xã hội (Social Security).[1] Vì vậy, cần có cách tiếp cận đúng để thực hiện tốt các chức năng của BHXH, góp phần hoàn thiện chiến lược an sinh xã hội trong chiến lược phát triển bền vững nền kinh tế của đất nước.
Về mặt thuật ngữ
Trong
khá nhiều tài liệu từ trước đến nay, khi tìm hiểu và đánh giá hệ thống BHXH của
các nước về các chế độ bảo hiểm, về cơ chế tài chính của hệ thống, không ít tác
giả đã sử dụng thuật ngữ Social Security thay
cho Social Insurance. Điều này có thể thấy ở nhiều cuộc hội
thảo quốc tế về An sinh xã hội. Ngay như thực tế ở nước ta, Cơ quan Bảo hiểm xã
hội Việt Nam lấy tên tiếng Anh là “Vietnam Social Security”. Trong khi
đó, tên tiếng Anh của Vụ Bảo hiểm xã hội thuộc Bộ Lao động, thương binh và xã
hội lại là “Department of Social Insurance”. [2]
Việc
sử dụng lẫn lộn, thay thế cho nhau này cũng dễ hiểu. Về mặt lịch sử, gắn với
các sức ép về chính trị và xã hội phát sinh trong quá trình phát triển công
nghiệp và mâu thuẫn giai cấp đầu thế kỷ 19, trong khoảng thời gian ngắn
1883-1889, nước Đức đã ban hành các Luật bảo hiểm y tế, Luật bảo hiểm tai nạn và
Luật hưu trí và tử tuất theo sáng kiến của Thủ tướng Otto von Bismarck. Các Luật
này nhằm bảo đảm cho cuộc sống của người lao động Đức cũng như gia đình họ khi
ốm đau, bệnh tật, tai nạn, hay đơn giản là khi đến độ tuổi cần phải nghỉ ngơi,
không có đủ sức khỏe để tiếp tục làm việc tạo thu nhập. Sự thành công và hấp dẫn
của các chương trình BHXH này đã nhận được sự quan tâm ủng hộ và tiếp nhận của
nhiều nước châu Âu. Sau đó, các chương trình bảo hiểm cho người lao động do Nhà
nước thực hiện tiếp tục lan sang các nước châu Mỹ Latinh, Mỹ, Canađa. Tuy nhiên,
khi tổ chức thực hiện các trợ cấp cụ thể cho người lao động, có nhiều điểm thay
đổi phụ thuộc theo đặc điểm kinh tế, chính trị, xã hội và truyền thống của mỗi
nước. Tại Mỹ, các hoạt động bảo đảm trợ cấp khi người lao động đến tuổi nghỉ
hưu, thất nghiệp, hỗ trợ gia đình chăm sóc con cái, được bắt đầu từ năm 1935 sau
cuộc Đại Khủng hoảng. Các hoạt động này được triển khai theo Đạo luật An sinh xã
hội ban hành cùng năm đó (Social Security Act 1935). Lần đầu tiên trên thế giới,
thuật ngữ “An sinh xã hội” được sử dụng. Thuật ngữ này xuất hiện lần nữa trong
đạo luật được thông qua tại Niu Dilân năm 1938. Tổ chức Lao động quốc tế (ILO)
sau đó sử dụng chính thức thuật ngữ này Công ước 102 năm 1952 “Công ước về An
sinh xã hội (Các chuẩn mực tối thiểu)”[3].
Theo
ILO, An sinh xã hội là “sự bảo vệ mà xã hội cung cấp cho các thành
viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng nhằm chống lại các tình
cảnh khốn khó về kinh tế và xã hội mà có thể gặp phải do khoản thu nhập bị mất,
hoặc giảm đáng kể, gây ra bởi ốm đau, thai sản, thương tật lao động, thất
nghiệp, tàn tật, tuổi già và tử vong; sự cung cấp về chăm sóc y tế và sự cung
cấp các khoản trợ cấp cho các gia đình đông con” (ILO, 1998) .
Trên thực tế, các nước có các
cách tiếp cận khác nhau để thực hiện các bảo vệ này. Có những nước như Úc, Niu
Zilân, và một số nước vùng Scăngđinavi lựa chọn tiếp cận việc cung cấp các trợ
cấp chủ yếu dựa vào nguồn tài chính từ thuế. Ở các nước khác, tài chính thực
hiện các trợ cấp này phần lớn lại dựa vào đóng góp của người sử dụng lao động và
người lao động. Tuy nhiên, tạo nguồn tài chính từ đóng góp của người lao động và
người sử dụng lao động có hai phương thức. Thứ nhất là cơ chế tài khoản cá nhân
bắt buộc của nhà nước (Quỹ dự phòng) để đảm bảo thu nhập cho người lao động khi
nghỉ hưu. Các chương trình này được thực hiện tập trung ở các nước châu Á (điển
hình là Xin-ga-po,
In-đô-nê-xia,…) và một số nước châu Phi. Thứ hai là cơ chế bảo hiểm xã hội như ở
Việt Nam và rất nhiều nước khác. Để
thực hiện chăm sóc y tế, trợ cấp bảo đảm thu nhập trong các trường hợp ốm đau,
thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, chăm sóc con nhỏ,
tuổi già, tàn tật và mất người nuôi dưỡng, không ít nước chọn đồng thời nhiều
chương trình với các phương thức tạo nguồn tài chính khác
nhau. Tuy nhiên,
phần lớn các nước trên thế giới đều thực hiện các trợ cấp cho người lao động qua
BHXH. Bảng số liệu ở dưới cho thấy, chưa kể đến các chương trình BHXH ngắn hạn,
trong tổng số 172 nước được điều tra qua 2 năm 2010 và 2011 có đến 137 nước thực
hiện trợ cấp hưu qua chương trình BHXH bắt buộc (chiếm hơn 79,7%). Ngoài BHXH,
trợ cấp hưu còn được các nước triển khai qua các chương trình khác như quỹ dự
phòng; chương trình có mức trợ cấp dựa vào thẩm tra tài sản của đối tượng hưởng;
chương trình có mức trợ cấp đồng đều, chương trình có mức trợ cấp đồng đều toàn
dân, chương trình hưu nghề nghiệp, chương trình tài khoản cá nhân do thị trường
bảo hiểm cung cấp. Nhìn chung, các chương trình trợ cấp đồng đều (toàn dân hoặc
không toàn dân) và chương trình có trợ cấp dựa vào thẩm tra tài sản thường được
tài trợ chủ yếu bởi ngân sách nhà nước. Nhiều nước vừa có trợ cấp theo BHXH vừa
có trợ cấp theo các chương trình được tài trợ bởi ngân sách nhà nước để đảm bảo
sự bảo vệ toàn diện đối với mọi người dân. Với thực tiễn như vậy, nhiều nước coi
các trợ cấp mà họ thực hiện là BHXH. Trong khi đó, những nước mà thực hiện các
trợ cấp này với nhiều chương trình khác nhau thì sẽ nhắc đến như là các biện
pháp ASXH.
Bảng:
Các chương trình trợ cấp hưu tuổi già bắt buộc ở các nước trên thế
giới
|
|
Châu
Âu
|
Châu
Á & Thái Bình
dương
|
Châu
Phi
|
Châu
Mỹ
|
Cộng
|
|
Tổng
số nước được điều tra, trong
đó:
|
44
|
48
|
44
|
36
|
172
|
|
Có
chương trình
BHXH
|
39
|
26
|
38
|
34
|
137
|
|
Chỉ có
BHXH
|
12
|
17
|
33
|
11
|
73
|
|
Có
chương trình thẩm tra tài
sản
|
25
|
15
|
3
|
9
|
62
|
|
Có
chương trình trợ cấp đồng đều toàn
dân
|
2
|
5
|
3
|
2
|
12
|
|
Có
Quỹ Dự
phòng
|
0
|
12
|
4
|
0
|
16
|
|
Có
các chương trình
khác (*)
|
14
|
7
|
2
|
12
|
35
|
|
Nguồn: Tổng hợp
theo “Social Security Programs Throughout the World”, Cơ quan Quản lý An sinh xã
hội Mỹ.
Chú
thích:
- Số liệu của châu Âu và châu
Á- Thái Bình dường là số liệu 2010
- Số liệu của châu Phi và châu
Mỹ là số liệu 2011
- Các chương trình khác được
báo cáo qua điều tra là trợ cấp đồng đều, hưu nghề nghiệp, hưu tài khoản cá nhân
do thị trường bảo hiểm cung
cấp.
| |||||
Ở nước ta
hiện nay, các chế độ trợ cấp trong Công ước 102 của ILO được triển khai theo cơ
chế tài chính bảo hiểm. Đó một quỹ chung được thành lập từ đóng góp của người
lao động và người sử dụng lao động để tài trợ cho các khoản trợ cấp. Đối với
chăm sóc y tế, Nhà nước đóng góp hoàn toàn cho các đối tượng chính sách nhất
định. Nhưng phần đóng góp này được gộp chung vào quỹ bảo hiểm y tế cùng với phần
đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động chứ không tách thành
chương trình
riêng.
Là hoạt động theo nguyên tắc tập trung chia sẻ tổn thất
Về
bản chất kỹ thuật, BHXH được phân tích dựa trên cơ sở tập trung chia sẻ tổn
thất. Đây là nguyên tắc cốt lõi của bất kỳ một hoạt động bảo hiểm nào. Theo đó,
tổn thất thu nhập bị mất hoặc giảm sút của một người lao động nào đó do ốm đau,
tai nạn, hết tuổi lao động, thất nghiệp, tử vong,… sẽ được bù đắp thay thế một
phần hoặc toàn bộ dựa vào một quỹ tài chính được huy động từ đóng góp của đông
đảo những người lao động và người sử dụng lao động của họ. Chính đặc điểm kỹ
thuật của BHXH làm cho các trợ cấp thực hiện qua chương trình BHXH thể hiện tính
đoàn kết cao giữa các nhóm lao động, giữa người lao động và người sử dụng lao
động.
Từ
góc nhìn này, BHXH thường được phân biệt bảo hiểm thương mại (BHTM) (Jütting,
1999; Forss M., et al, 2000; Feldstein, 2005). Việc chỉ ra những điểm giống và
khác nhau của BHXH là để hiểu sâu hơn về BHXH, làm nổi bật hơn ý nghĩa của BHXH
trong quá trình phát triển có nhiều thay đổi về kinh tế, chính trị, xã hội trên
toàn cầu hiện nay. Cùng là hoạt động bảo hiểm nên nguyên lý kỹ thuật của hoạt
động BHXH và BHTM là giống nhau, cùng dựa vào “số đông bù số ít”. Tuy nhiên, phù
hợp với tên gọi của hai loại bảo hiểm này, BHXH có tính xã hội sâu rộng hơn,
hoạt động không vì lợi nhuận trong khi bảo hiểm thương mại thể hiện tính kinh
doanh vì lợi nhuận. Do vậy, mặc dù cùng cung cấp sự bảo vệ cho người được bảo
hiểm trước các nguy cơ gây tổn thất song mục tiêu và tính chất hoạt động hoàn
toàn khác nhau đã dẫn đến những điểm khác nhau cơ bản của hai loại BHXH này. Về
chủ thể tổ chức quản lý điều hành thực hiện, BHXH ở hầu hết các nước do một hoặc
nhiều cơ quan của nhà nước đảm nhiệm, trong khi BHTM là bảo đảm do các doanh
nghiệp bảo hiểm, các hội tương hỗ cung cấp qua thị trường bảo hiểm. Quỹ BHXH
được Nhà nước bảo trợ trong khi quỹ BHTM tự hạch toán kinh doanh. Ngoài ra, BHXH
và BHTM còn khác nhau về giới hạn và đặc điểm rủi ro được bảo hiểm, về hình thức
tham gia bảo hiểm chủ yếu; việc đầu tư tài trợ
quĩ.
Là cơ chế bảo vệ trong hệ thống an sinh xã hội
Xét
từ nội dung và kết cấu của một hệ thống ASXH, BHXH được nhìn nhận như là một cơ
chế bảo vệ quan trọng nhất. Theo Giáo trình Bảo hiểm của trường Đại học Kinh tế
Quốc dân: “BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của
người lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao
động, mất việc làm dẫn đến mất thu nhập trên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ
tiền tệ tập trung nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động và gia đình họ, góp
phần bảo đảm An sinh xã hội" (Nguyễn Văn
Định, 2012). Tuy trong khái niệm này không nói rõ việc hình thành và tập trung
quĩ BHXH như thế nào nhưng đã xác định được sự bảo vệ mà BHXH cung cấp cho người
lao động và gia đình họ là “góp phần bảo đảm An sinh xã hội”. Và để làm rõ điều
đó, cơ chế BHXH được phân biệt với các cơ chế bảo vệ khác trong hệ thống ASXH
như cứu trợ xã hội, dịch vụ xã hội của nhà nước, Quỹ dự phòng,… dựa vào nguyên
tắc hoạt động và các đặc trưng cơ bản của BHXH (ILO, 1998; Ginneken,
2003).
Điểm
khác nhau đầu tiên của BHXH so với phần lớn các cơ chế bảo vệ còn lại trong hệ
thống ASXH đó là tài chính BHXH dựa vào chính đóng góp của người lao động và
người sử dụng lao động được tập trung và một quỹ chung. Trong khi đó, tài chính
cho hoạt động cứu trợ xã hội dựa vào thuế của nhà nước và đóng góp hảo tâm của
cộng đồng. Tài chính quỹ dự phòng để tài trợ cho các trợ cấp cấp hưu của người
lao động mặc dù cũng từ đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động
nhưng theo các tài khoản cá nhân người lao động. Tài chính của chương trình trợ
cấp từ người sử dụng lao động dựa vào ngân sách trích lập từ lợi nhuận thu được
để đảm bảo bù đắp tổn thất thu nhập của người lao động do ốm đau, tai nạn. Nếu
như quỹ BHXH được bảo trợ của nhà nước thì quỹ dự phòng theo tài khoản cá nhân
không được nhà nước bảo trợ trong các trường hợp mất giá trị do lạm phát. Việc
phân biệt giữa BHXH với các cơ chế bảo vệ khác còn dựa vào quyền được hưởng trợ
cấp. Để được hưởng trợ cấp BHXH, điều kiện cơ bản trước hết mà người lao động
phải đáp ứng được là đã tham gia đóng góp BHXH. Hay nói cách khác, quyền hưởng
được tích lũy theo trách nhiệm đóng góp BHXH đã thực hiện. Còn đối với các trợ
cấp xã hội được lấy từ nguồn quỹ ngân sách nhà nước (trung ương hoặc địa phương)
thì quyền hưởng dựa vào quyền công dân (như ở Niu Zilân, Thụy Điển, Nauy,…),
hoặc dựa vào việc thẩm tra đánh giá tài sản (mean-tested) như ở nhiều nước châu
Âu (Xem
Bảng).
Là dịch vụ công
Một
cách nhìn nhận nữa về BHXH cần phải nhắc đến là từ góc độ kinh tế học công cộng.
Ngoài những thất bại thị trường là cơ sở để có hoạt động của nhà nước thì phân
phối lại thu nhập là lý do chính đáng để Nhà nước thể hiện vai trò tích cực của
mình trong nền kinh tế. Cho đến nay, BHXH được coi là phương tiện để Nhà nước
phân phối lại một cách công khai thu nhập xã hội (Rosen, 1992; Stiglitz, 1988).
Thông qua quỹ BHXH được hình thành dựa vào các đóng góp bắt buộc từ người lao
động và người sử dụng lao động, thu nhập được ‘chuyển giao” cho những người thụ
hưởng BHXH – là người lao động và/hoặc thân nhân của họ đủ quyền hưởng BHXH. Tuy
nhiên, Stiglitz (1988) thừa nhận, BHXH thực chất là một hoạt động sản xuất của
Chính phủ, nhưng do người thụ hưởng BHXH thường nhận được nhiều hơn so với phần
đóng góp của họ nên có sự phân phối lại thu nhập dựa vào chương trình BHXH.
Trong “Rethinking Social Insurance” (“Tư duy lại về bảo hiểm xã hội”)
viết năm 2005, giáo sư Martin Feldstein, Chủ
tịch Uỷ ban Quốc gia về Nghiên cứu Kinh tế, Trường Đại học Havard cũng cho rằng
mục đích chính khi thiết kế các chương trình BHXH không phải là để làm phương
tiện phân phối lại thu nhập như các chương trình phúc lợi. Song, do một phần chi
tiêu BHXH là để trả cho những người có thu nhập thấp nên BHXH là phương tiện
phân phối thu nhập đối với một số nhóm dân cư nhất định như người già, lao động
tàn tật... Trong cuốn “Kinh tế học công cộng” tái bản lần 2 năm 1988, Joseph E.
Stiglitz còn cho rằng, dựa vào quan điểm gia trưởng, Chính phủ buộc người lao
động phải tham gia BHXH để có khoản thu nhập bảo đảm cuộc sống sau khi nghỉ hưu
vì điều đó là có lợi nhất cho người lao động. Lúc này, BHXH có ý nghĩa là một
loại hàng hoá khuyến
dụng.
BHXH
là một loại hàng hoá công cộng và chính xác hơn là một dịch vụ công. Theo Vũ Trí
Dũng (2007), dịch vụ công là hoạt động thuộc khu vực công nhằm cung cấp cho
người dân các lợi ích hoặc là lợi ích tập thể hoặc là lợi ích cá nhân “trong
khung cảnh phát triển của sự đoàn kết xã hội”. Cuốn “Dịch vụ công - đổi mới quản
lý và tổ chức cung ứng ở Việt Nam hiện nay” (Chu Văn Thành, 2007) tìm hiểu khá
đầy đủ thế nào là dịch vụ công theo các cách tiếp cận khác nhau như theo chủ thể
cung cứng dịch vụ, theo chức năng vai trò của nhà nước, theo đối tượng cung cấp,
theo lý thuyết về hàng hoá công cộng và lựa chọn công cộng. Từ đó, các tác giả
của cuốn sách đã đưa ra khái niệm phù hợp với thực tiễn
Việt Nam ,
cho rằng “dịch vụ công là những dịch vụ đáp ứng các nhu cầu cơ bản, thiết yếu
chung của người dân và cộng đồng, bảo đảm ổn định và công bằng xã hội do nhà
nước chịu trách nhiệm, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận”. Xét từ bản
chất và đặc điểm hoạt động, bảo hiểm nói chung, BHXH nói riêng vừa có tính kinh
tế, vừa có tính xã hội và có tính dịch vụ (Nguyễn Văn Định - chủ biên, 2012). Ở
đây, dịch vụ BHXH chính là cam kết bảo đảm thu nhập cho người lao động khi không
may bị mất hoặc giảm do gặp phải các biến cố như ốm đau, thai sản, tai nạn lao
động, bệnh nghề nghiệp, tuổi già, tàn tật, tử vong, mất việc làm,… Với tư cách
là một dịch vụ, hoạt động BHXH có các đặc điểm là vô hình, không thể cất trữ,
không có tính đồng nhất. Các đặc điểm này có ảnh hưởng lớn tới việc cung cấp
dịch vụ BHXH tổ chức BHXH. Ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, dịch vụ BHXH
thuộc khu vực công, chủ yếu do nhà nước tổ chức cung
cấp.
Nhằm
làm rõ hơn bản chất của dịch vụ công cũng như để có sự tổ chức quản lý cho phù
hợp, tác giả Chu Văn Thành và cộng sự còn phân loại dịch vụ công thành dịch vụ
hành chính công, dịch vụ sự nghiệp công, dịch vụ công ích. Trong đó, dịch vụ sự
nghiệp công do các tổ chức chuyên ngành có chuyên môn sâu cung cấp nhằm đáp ứng
các nhu cầu cơ bản về phát triển cá nhân của con người. Các tổ chức chuyên ngành
này được gọi là các tổ chức sự nghiệp. Nhà nước chịu trách nhiệm thành lập và
quản lý các tổ chức cung cấp dịch vụ sự nghiệp công chủ yếu trong các lĩnh vực
như giáo dục đào tạo, y tế, an sinh xã hội, thể dục thể thao,…
(Chu Văn
Thành, 2007). Căn cứ vào cách phân loại này, BHXH có thể xác định thuộc
loại dịch vụ sự nghiệp công mà Nhà nước trực
tiếp cung ứng thông qua việc thành lập và điều hành các tổ chức
BHXH.
ASXH
hiện nay đang là vấn đề trung tâm trong xây dựng và thực hiện chiến lược phát
triển ở nước ta. Điều này đã được thể hiện rõ trong các mục tiêu của Chiến lược
phát triển kinh tế xã hội Việt Nam 2011-2020 và phù hợp với quan điểm của Đảng
tại Đại hội XI. Trong bối cảnh đó, hiểu đúng về BHXH để một lần nữa khẳng định
rằng BHXH là trụ cột quan trọng nhất trong hệ thống ASXH nước ta hiện nay. Bởi
BHXH là biện pháp an sinh có đối tượng hưởng là những người lao động và những
thân nhân phụ thuộc. Một mặt, các trợ cấp BHXH góp phần bảo đảm ổn định cuộc
sống của gia đình người lao động. Mặt khác, ảnh hưởng tích cực của BHXH là góp
phần xây dựng một lực lượng lao động khỏe mạnh, có năng suất lao động ở cả hiện
tại và tương lai. Tính ưu việt của cơ chế bảo vệ BHXH trong hệ thống an sinh còn
thể hiện ở chỗ các khoản trợ cấp BHXH được tài trợ một phần từ chính đóng góp
của những người lao động. Trong hoàn cảnh ngân sách nhà nước không dư giả, điều
thường thấy ở các nước đang phát triển như nước ta, thì rõ ràng hoạt động BHXH
mở rộng và hiệu quả sẽ giảm bớt được rất nhiều gánh nặng cho ngân sách nhà nước.
Hơn thế nữa, BHXH còn là biện pháp thể hiện tính đoàn kết giữa những nhóm người
có lợi ích được coi là mâu thuẫn nhau, đó là người lao động và người sử dụng lao
động.
Mặc
dù trong những năm qua, hoạt động quản lý của BHXH Việt Nam đã đạt được những
kết quả nhất định từ việc cải cách theo chương trình cải cách thủ tục hành chính
của Chính phủ. Tuy nhiên, để xứng đáng với vai trò trụ cột trong hệ thống ASXH,
chiến lược BHXH cần được xây dựng với nhận thức rõ BHXH có tư cách là một dịch
vụ sự nghiệp công. Ngay từ Đại hội lần thứ IX, Đảng ta cũng đã khẳng định về yêu
cầu đổi mới các tổ chức sự nghiệp công là phải tách bạch cơ quan hành chính công
quyền với tổ chức sự nghiệp. Do đó, việc xác định tầm nhìn và sứ mệnh của cơ
quan BHXH là cần thiết. Và các cải cách quản lý theo hướng hiện đại hóa của cơ
quan BHXH cần dựa vào tầm nhìn và sứ mệnh
này.
Tài liệu tham khảo
Chu Văn Thành, & cộng sự.
(2007). Dịch vụ công - Đổi mới quản lý và tổ chức cung ứng ở
Việt Nam. Hà Nội: NXB Chính trị Quốc
gia.
Đảng Cộng sản Việt Nam.
(2001). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX. Hà Nội: NXB Chính trị
Quốc gia.
Đảng cộng sản Việt Nam.
(2011). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Hà Nội: NXB Chính trị
Quốc gia.
Feldstein, M. (2005).
Rethinking Social Insurance. Working paper No. 11250, NBER, Havard
University.
Forss, M., Kalimo, E., &
Purola, T. (2000). Globalisation ang the concept of
insurance. ISSA. Helsinki, Finland: Conference on Social
Security “Social security in the global village”, 25-27 September
2000.
Ginneken, W. (2003). ESS paper
No 13. Extending Social Security: Policies for Developing
Countries. Social Security Policy and Development Branch,
ILO.
ILO.
(1998). Social Securty Principles (Vol. I).
Geneva:
ILO.
Jütting J. (1999, June).
Development Policy No. 9. Strengthening Social Security System
in Rural Areas of Developing Countries. Bonn, Germany: The Centre for
Development Research
(ZEF).
Nguyễn Văn Định (chủ biên).
(2012). Giáo trình bảo hiểm (Tái bản lần 2
ed.). Hà Nội: Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc
dân.
Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam.
(2006, 06 29). Luật Bảo hiểm xã hội. Luật số 71/2006/QH11.
Hà Nội, Việt Nam: Quốc hội nước CHXHCN Việt
Nam.
Rosen, H.
(1992). Public Finance. Richard D. Irwin,
Inc.
Roy, C. (2001). New management
practices in social security. In D. D. Hoskins, D. Dobbernack, & C.
Kuptsch, Social Security at the Dawn of the 21st Century –
Topical issues and New approach. London: Transaction Publishers
- ISSA.
SSA. (2012,
04). Social Security Throughout the World. Retrieved from
The U.S. Social Security Administration Website:
http://www.ssa.gov/policy/docs/progdesc/ssptw/index.html
Stiglitz, S.
(1988). Public economics (2nd ed.). London: W.W
Norton & Company (Bản dịch của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, 1995, Nhà
xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà
Nội).
Vũ Trí Dũng.
(2007). Marketing công cộng. Hà Nội: NXB Đại
học Kinh tế Quốc dân.
[1]Mặc
dù hiện nay có nhiều khái niệm về An sinh xã hội, nhưng trong phạm vi bải viết
này, tác giả chỉ bàn đến thuật ngữ An sinh xã hội với tên tiếng Anh là “Social
Security” và với nghĩa hẹp của từ theo quan điểm
ILO.
[2]Xem http://www.asean-ssa.org/ESA/Vietnam/AboutUs/index.htm và http://english.molisa.gov.vn/Default.aspx?tabid=335&IntroId=538
[3]Social
Security (Minimum Standards) Convention, 1952