Business Insurance
Bảo hiểm nông nghiệp với sự phát triển bền vững của doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam
00:30Th.s GVC Tôn Thị Thanh Huyền
Đại học Kinh tế Quốc
dân
Sự phát triển
bền vững của doanh nghiệp được xác định trên cơ sở kết hợp giữa việc đạt được
mục tiêu tăng trưởng và lợi nhuận với việc thực hiện phát triển xã hội, bảo vệ
môi trường. Vậy, liệu việc triển khai bảo hiểm nông nghiệp ở Việt Nam hiện nay
có phải là một cản trở đến sự phát triển bền vững của DNBH hay không? Bài viết
đưa ra một số phân tích và đóng góp ý kiến về vấn đề này.[1]
[1] Bài đăng
trên Tạp chí Tài
chính – Bảo hiểm, số
2/2014
Phát triển bền
vững của
DNBH
Phát triển bền
vững là vấn đề mang tính nghị sự ở nhiều quốc gia. Trong xu hướng chung ấy, ngay
từ đầu thập kỷ cuối của thế kỷ 20, Việt Nam đã hướng đến mục tiêu phát triển bền
vững. Cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong công cuộc
phát triển này. Không chỉ là các nỗ lực cho tăng trưởng và phát triển kinh tế,
doanh nghiệp còn thúc đẩy phát triển bền vững của quốc gia qua việc chung sức
bảo đảm công bằng xã hội và bảo vệ môi trường. Đó cũng chính là sự phát triển
bền vững của các doanh
nghiệp.
Đối với doanh
nghiệp bảo hiểm (DNBH), phát triển bền vững là khi đạt được mục tiêu tăng trưởng
doanh thu và lợi nhuận kết hợp với việc thực hiện tốt các trách nhiệm xã hội và
góp phần bảo vệ môi trường. Cũng như các doanh nghiệp khác, hướng đến phát triển
bền vững của DNBH vừa thể hiện tầm chiến lược của doanh nghiệp; đồng thời thể
hiện sự hài hòa với mục tiêu phát triển chung của quốc gia. Hoạt động chức năng
chính của DNBH là cung cấp các dịch vụ bảo hiểm cho các cá nhân, tổ chức có nhu
cầu bảo đảm rủi ro trong nền kinh tế thị trường. Bởi vậy, việc thực hiện trách
nhiệm xã hội của DNBH nếu chỉ gói gọn ở hoạt động trích lợi nhuận để làm từ
thiện, phát triển cộng đồng… sẽ là chưa đủ. Với đặc thù kinh doanh, các DNBH có
thể thông qua sản phẩm bảo hiểm đang triển khai để hoàn thành các trách nhiệm xã
hội của mình. Các sản phẩm bảo hiểm có tính xã hội hóa cao có ý nghĩa rất lớn
trong việc góp phần đảm bảo an sinh xã hội. Bảo hiểm nông nghiệp là một sản phẩm
điển
hình.
Ảnh hưởng của
bảo hiểm nông nghiệp đến sự phát triển bền vững của DNBH ở Việt
Nam
Bảo hiểm nông
nghiệp là các bảo đảm bù đắp cho các thiệt hại trong trồng trọt, chăn nuôi gia
súc, gia cầm, nuôi trồng thủy sản, và các hoạt động liên quan. Bảo hiểm nông
nghiệp giúp cho người nông dân có thể ổn định thu nhập, đặc biệt trong những
năm có thiên tai thảm họa. Lợi ích này thể hiện rõ từ 3 góc độ: Thứ nhất, bảo
hiểm nông nghiệp giúp cho người nông dân giảm thiểu được sự mất ổn định trong
luồng chi tiêu gia đình nhờ các khoản bù đắp thiệt hại liên quan đến kết quả sản
xuất nông nghiệp. Từ đó, phúc lợi của người nông dân và gia đình họ cũng đảm
bảo. Thứ hai, bảo hiểm nông nghiệp góp phần khuyến khích người nông dân ứng dụng
các công nghệ mới, cải tiến trong sản xuất nông nghiệp, nhờ đó tăng năng suất
nông nghiệp và sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn. Thứ ba, bảo hiểm nông nghiệp làm
giảm rủi ro và tăng cường khả năng thu hồi vốn của các tổ chức tín dụng. Đến
lượt, lợi ích này lại làm tăng mức tín dụng có thể tiếp cận được đối với người
nông
dân.
Triển khai thành
công bảo hiểm nông nghiệp còn đem lại lợi ích thấy rõ cho Ngân sách nhà nước và
phát triển kinh tế. Gánh nặng ngân sách do chi trợ cấp nông nghiệp khi có thiên
tai, dịch bệnh sẽ được giảm nhẹ. Đặc biệt khi có thảm họa, bảo hiểm nông nghiệp
càng thể hiện được vai trò ổn định cho ngân sách nhà nước. Từ góc độ nền kinh
tế, bảo hiểm nông nghiệp nằm trong hệ thống các biện pháp giảm thiểu rủi ro nông
nghiệp. Kinh tế nông nghiệp nông thôn, nhờ vậy, được tạo đà để phát triển
hơn.
Vậy, với các nhà
kinh doanh bảo hiểm, liệu bảo hiểm nông nghiệp có mặt trong “giỏ sản phẩm” mà họ
cung cấp trên thị trường ảnh hưởng đến phát triển bền vững của doanh nghiệp hay
không? Băn khoăn này càng dễ hiểu đối với các DNBH ở Việt
Nam.
Bảo hiểm
nông nghiệp ở Việt
Nam
Nhìn lại lịch sử
phát triển, có thể nói bảo hiểm nông nghiệp tồn tại trên thị trường bảo hiểm
Việt Nam khá “trầy trật”. Năm 1982 với hoạt động thí điểm sản phẩm bảo hiểm cây
lúa của Bảo Việt, bảo hiểm nông nghiệp được coi là lần đầu tiên có mặt ở Việt
Nam. Tuy nhiên, đến năm thứ hai thì hoạt động bảo hiểm này phải dừng lại vì
không có đủ người tham gia. Năm 1993, Bảo Việt triển khai lại bảo hiểm nông
nghiệp nhưng cũng chỉ kéo dài hơn lần trước vài năm. Sau những thiệt hại nghiêm
trọng do thiên tai, cùng với việc triển khai bảo hiểm mùa màng không mở rộng
được, bảo hiểm nông nghiệp ở Việt Nam một lần nữa phải dừng lại vào năm 1998.
Đến năm 2002, bảo hiểm nông nghiệp được mong chờ trở lại thị trường bảo hiểm
Việt Nam với sự tham gia của Groupama (Pháp). Tuy nhiên, danh tiếng và bề dày
kinh nghiệm bảo hiểm nông nghiệp của Groupama cũng đã không giúp cho công ty này
kinh doanh thành công trên thị trường Việt Nam và phải báo lỗ sau vài năm hoạt
động.
Ngoài Bảo Việt và
Groupama, thị trường bảo hiểm nông nghiệp Việt Nam hiện nay còn có sự góp mặt
của một số công ty bảo hiểm khác như Bảo Minh, PVI, PTI. Tuy nhiên, để đảm bảo
hiệu quả kinh doanh, các DNBH đều thận trọng nhận bảo hiểm cho một số cây trồng,
vật nuôi có giá trị kinh tế cao và ít rủi
ro.
Năm 2011 là
một dấu mốc mới trên
con đường phát triển bảo hiểm nông nghiệp Việt Nam. Đó là việc thí điểm thực
hiện bảo hiểm nông nghiệp giai đoạn 2011 – 2013 theo Quyết định số 315/QÐ-TTg
ngày 1/3/2011. Các doanh nghiệp gồm Bảo Việt, Bảo Minh và VinaRe được giao tham
gia chương trình này theo nguyên tắc phi lợi nhuận. Các hộ nông dân và tổ chức
sản xuất nông nghiệp tham gia bảo hiểm theo chương trình thí điểm được Chính phủ
hỗ trợ đóng phí theo các mức khác nhau cho các đối tượng khác nhau từ 20% đến
100% phí bảo hiểm. Đánh giá tổng kết sau 3 năm thực hiện thí điểm để lại nhiều
băn khoăn cho hướng đi tiếp theo của các DNBH Việt Nam. Tính đến tháng 6/2014,
có 304.017 hộ nông dân/tổ chức tham gia bảo hiểm nông nghiệp theo chương trình
thí điểm; tổng phí bảo hiểm gốc khoảng 394 tỷ đồng, nhưng số tiền bồi thường rất
cao, lên đến 701,8 tỷ
đồng.
Có thể thấy, việc
thực hiện bảo hiểm nông nghiệp không theo thí điểm ở nước ta từ trước đến nay
vẫn rất thận trọng, dè chừng và chưa đảm bảo nguyên tắc số đông bù số ít. Trong
khi theo chương trình thí điểm, sự hỗ trợ của Chính phủ và các bên có liên quan
đã hậu thuẫn hết mực, đảm bảo số đông người tham gia bảo hiểm hơn. Bên cạnh đó,
chương trình thí điểm cũng quy định rằng, nếu kết quả kinh doanh thí điểm của
các doanh nghiệp bị lỗ với mức vượt quá 10% vốn chủ sở hữu thì
Chính phủ sẽ xem xét hỗ trợ. Tuy nhiên, tỷ lệ lỗ cao 178,1% từ chương trình thí điểm
báo trước nguy cơ kinh doanh bảo hiểm nông nghiệp thất bại cho các DNBH ở Việt
Nam nếu tiếp
tục.
Quay trở lại vấn
đề đưa ra, kinh doanh bảo hiểm nông nghiệp ở Việt Nam hiện nay hiển nhiên là rủi
ro cao. Trong trường hợp kinh doanh như vẫn thực hiện không có thí điểm, nếu
thiên tai, dịch bệnh xảy ra nặng nề và liên miên thì dù có thận trọng với các
hợp đồng bảo hiểm có lựa chọn, các DNBH cũng khó tránh khỏi việc phải cân nhắc
ngừng kinh doanh. Nếu triển khai với sự hỗ trợ phí của Chính phủ như thí điểm
vừa qua, dù có đông người tham gia hơn nhưng doanh nghiệp khó lựa chọn rủi ro để
đảm bảo kinh doanh an toàn. Theo cách này hay cách khác, kinh doanh bảo hiểm
nông nghiệp đều có thể làm suy giảm lợi
nhuận.
Ngược lại, nếu
nhìn từ góc độ khác, kinh doanh bảo hiểm nông nghiệp lại thể hiện được vai trò
tích cực đối với mục tiêu phát triển doanh nghiệp bền vững. Trước
hết, kinh doanh bảo
hiểm nông nghiệp có thể coi là một cách đóng góp (cả về tài chính và năng lực
trí tuệ) của các DNBH cho cải thiện chất lượng cuộc sống của đông đảo lao động
nghèo nông thôn, góp phần đảm bảo an sinh xã hội. Đóng góp này rất lớn và vô
cùng có ý nghĩa, khác hẳn với việc chỉ trích lợi nhuận để làm từ thiện, một hình
thức đóng góp xã hội khác của các DNBH. Điều này dễ nhận thấy khi so sánh giữa
việc cung cấp sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp phù hợp cho người nông dân và việc
trích một khoản tiền để giúp họ có cơ hội vượt qua khó khăn do rủi ro nông
nghiệp gây ra. Kinh doanh bảo hiểm nông nghiệp còn có một điểm cộng khác đối với
phát triển bền vững của DNBH. Nếu bảo hiểm nông nghiệp là mảng kinh doanh “khó
nhằn” thì việc triển khai bảo hiểm này trên thị trường chỉ có thể là sứ mệnh của
các DNBH lớn, có năng lực trên thị trường. Cung cấp sản phẩm này trên thị trường
là cách gián tiếp bồi đắp nên thương hiệu của DNBH, thể hiện được vai trò dẫn
đầu thị trường của doanh
nghiệp.
Bảo đảm hài
hòa các mục tiêu của phát triển bền vững của DNBH trong kinh doanh bảo hiểm nông
nghiệp
Có thể nói, kinh
doanh bảo hiểm nông nghiệp ở Việt Nam không chỉ là “thiệt hại” cho DNBH. Bởi
vậy, các DNBH lớn hoàn toàn có thể cân nhắc để tiếp tục triển khai bảo hiểm nông
nghiệp. Trong phạm vi hạn chế, bài viết đưa ra một số gợi ý để đi đến mục đích
cuối cùng của các DNBH là phát triển bền vững khi kinh doanh bảo hiểm nông
nghiệp ở Việt
Nam.
Thứ
nhất, DNBH cần phải xác định
rõ quan điểm và các mục tiêu rõ ràng khi kinh doanh sản phẩm này. Trên cơ sở
nhận thức chủ động, DNBH phải coi việc kinh doanh bảo hiểm nông nghiệp nhằm đến
cả mục tiêu lợi nhuận và mục tiêu đóng góp xã hội của doanh nghiệp. Về lâu dài,
mục tiêu lợi nhuận vẫn phải đặt lên hàng đầu. Tuy nhiên, trong từng giai đoạn
triển khai, mục tiêu tăng trưởng và lợi nhuận của nghiệp vụ có thể lùi một chút
để chắt lọc kinh nghiệm trong kinh doanh bảo hiểm
này.
Thứ
hai, DNBH cần có các khuyến
nghị hợp lý với Chính phủ. Sự tiếp tục hỗ trợ đóng phí đối với người tham gia
vẫn vô cùng cần thiết để đảm bảo nguyên tắc số đông bù số ít. Tuy nhiên, DNBH là
các đơn vị kinh doanh vì lợi nhuận nên không thể vì thế mà thực hiện cung cấp
bảo hiểm đại trà cho tất cả các đối tượng tham gia ngay. DNBH cần có quyền lựa
chọn rủi ro để thực hiện kinh doanh bảo hiểm
này.
Thứ
ba, DNBH phải xây dựng được
chương trình kinh doanh bảo hiểm nông nghiệp phù hợp với năng lực hiện tại của
doanh nghiệp. Các giai đoạn trong chương trình cần có các mục tiêu và biện pháp
thực hiện phù hợp. Chẳng hạn, trong giai đoạn thắt chặt phạm vi đối tượng được
tham gia bảo hiểm nông nghiệp thì cần tăng cường nhận thức cho họ cả về lợi ích
của việc tham gia bảo hiểm và quản lý rủi ro trong nông nghiệp, có các cam kết
hỗ trợ quản lý rủi ro trong nông nghiệp đối với các khách hàng hiện có và khách
hàng tiềm
năng,…
Thứ
tư, DNBH cần nỗ lực hết sức
và ngay từ đầu trong việc đầu tư nghiên cứu phát triển sản phẩm phù hợp; Xây
dựng chiến lược tái hợp lý để có cơ sở đàm phán tái bảo hiểm; Xây dựng chương
trình quản lý rủi ro trong bảo hiểm nông nghiệp của doanh
nghiệp.
Tài liệu tham
khảo
Mishra, P. K.
(1996). Agricultural risk, Insurance and Income - A study the
impact and design of India's comprhensive crop insurance
scheme. Brookfield, Vermont: Avebury- Ashgate Publishing
Limited.