Business Insurance

Nhận dạng rủi ro của doanh nghiệp bảo hiểm

06:16


Ths. Tôn Thị Thanh Huyền
Khoa Bảo hiểm, trường Đại học Kinh tế quốc dân [1]
Doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) là người nhận sự chuyển giao rủi ro từ các tổ chức và cá nhân trong xã hội. Do đó, các DNBH am hiểu các rủi ro và thường có các tư vấn phòng ngừa rủi ro cho khách hàng của mình. Tuy nhiên, rủi ro là khách quan, bất ngờ và có thể xảy ra với bất kỳ ai, dù đó là người bảo hiểm. Bài viết này bàn về các rủi ro mà DNBH có thể gặp phải hoạt động kinh doanh của mình.

Tại sao cần tăng cường hiểu biết về rủi ro của DNBH

Có nhiều lý do đòi hỏi các nhà quản lý DNBH hiện nay phải hiểu rõ hơn về mỗi rủi ro mà DNBH có thể đối mặt, để từ đó doanh nghiệp có các biện pháp để quản lý tốt rủi ro của chính mình. Trước hết, môi trường kinh doanh bảo hiểm luôn chứa đựng các nhân tố khách quan có thể tạo thuận lợi nhưng cũng có thể có tác động gây tổn thất cho DNBH. Các nhân tố thuộc môi trường kinh doanh liên quan đến sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế, đến thị trường bảo hiểm, và đến các quy định pháp lý.
Thêm vào đó, luôn có các bên có liên quan để tâm đến việc liệu hoạt động của DNBH có hiệu quả hay không, có an toàn hay không. Đây cũng là một áp lực khiến các DNBH cần phải chú trọng hơn đến khả năng gặp rủi ro của chính doanh nghiệp mình. Chẳng hạn như, các cổ đông muốn biết liệu quyết định chiến lược kinh doanh của DNBH có dựa trên cơ sở đánh giá đáng tin cậy đối với cả vốn và rủi ro hay không. Còn các nhà đầu tư tài chính trên thị trường vốn lại kỳ vọng rằng thông qua các nỗ lực sử dụng có hiệu quả các nguồn lực khan hiếm, DNBH sẽ xác định được mức vốn tối thiểu phù hợp với đánh giá toàn diện về rủi ro của DNBH. Các tổ chức đánh giá xếp hạng tài chính cũng như các cơ quan quản lý nhà nước về kinh doanh bảo hiểm ngày càng quan tâm nhiều hơn đến đánh giá của các DNBH về cách nhận dạng, tập hợp và quản lý rủi ro trong kinh doanh bảo hiểm.
Lịch sử ngành bảo hiểm trên toàn thế giới đã chứng kiến nhiều DNBH gặp rủi ro, thậm chí đã bị rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán. Đây là một thực tiễn kinh doanh đòi hỏi các DNBH, dù là ở thị trường bảo hiểm đã phát triển hay là ở một thị trường bảo hiểm non trẻ, phải đánh giá và tích lũy vào kinh nghiệm quản lý. Đối với các DNBH, mất khả năng thanh toán cũng có nghĩa là tuyên bố phá sản. Trong số đó cũng không phải là không có các DNBH danh tiếng, có tên tuổi và lâu đời. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến phá sản một DNBH. Tuy nhiên, chúng đều xuất phát hoặc gắn liền với các rủi ro mà một DNBH có thể gặp phải. Trên thực tế, các rủi ro thể tác động trực tiếp, riêng lẻ nhưng cũng có thể có ảnh hưởng qua lại với nhau và cùng nhau làm cho DNBH bị mất khả năng thanh toán.
Cuối cùng, lý do nữa để DNBH phải chú ý hơn đến các rủi ro trong kinh doanh bảo hiểm đó là xu hướng quản lý DNBH hiện nay kết hợp quản lý vốn với quản lý rủi ro. Theo điều tra của KPMG đối với 102 DNBH của 19 nước năm 2004 thì thấy rằng quản lý rủi ro có hiệu quả là cách mà các DNBH áp dụng để tăng khả năng tiếp cận với thị trường vốn toàn cầu và cũng là cách để tăng lợi thế cạnh tranh. (Groot, 2005).

Các rủi ro của DNBH

Việc nhận dạng rủi ro là bước đầu và là bước quan trọng trong khung quản lý vốn và rủi ro. Theo cách tiếp cận Quản lý rủi ro doanh nghiệp (Enterprise Risk Management – ERM), các chuyên gia định phí bảo hiểm xác định cấu thành rủi ro của DNBH gồm Rủi ro kinh doanh chính và Rủi ro hoạt động (Orr & et al., 2002). Hiểu một cách đơn giản nhất, Rủi ro kinh doanh chính (Core Business Risks) là các rủi ro phát sinh gắn với các quyết định kinh doanh của Ban giám đốc. Trong khi đó, Rủi ro hoạt động là các rủi ro phát sinh do việc thực hiện các quyết định này, hoặc từ các nhân tố bên ngoài. Chẳng hạn, đối với các DNBH phi nhân thọ, rủi ro kinh doanh chính bao gồm: Rủi ro bảo hiểm (Insurance Risk); Rủi ro đầu tư (Investment Risk); và Rủi ro tái bảo hiểm (Reinsurance Risk). Trong đó, nếu quy chiếu theo cách phân loại rủi ro của hệ thống ngân hàng thì nhiều rủi ro của DNBH thuộc nhóm rủi ro về đầu tư và rủi ro về tái bảo hiểm có thể tập hợp vào trong rủi ro thị trường và rủi ro tín dụng. Trên cơ sở này, bài viết xây dựng hệ thống các rủi ro của một DNBH bao gồm các nhóm rủi ro: Rủi ro bảo hiểm, Rủi ro thị trường, Rủi ro tín dụng, Rủi ro hoạt động, và các Rủi ro khác.

Rủi ro bảo hiểm

Đây là loại rủi ro gắn với các nghiệp vụ bảo hiểm mà DNBH triển khai. Cụ thể hơn, các rủi ro này phát sinh liên quan đến sự không chắc chắn về tần suất, tính khốc liệt của rủi ro được bảo hiểm; liên quan đến thời gian thanh toán các khiếu nại trong tương lai và các chi phí liên quan. Thuộc nhóm rủi ro bảo hiểm của DNBH có thể có rủi ro thảm họa, rủi ro tử vong, thương tật, rủi ro về mất hiệu lực hợp đồng bảo hiểm, rủi ro hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm, rủi ro định phí không đầy đủ,.. Trong nhóm này rủi ro thảm họa là rủi ro bảo hiểm có tính điển hình nhất.
“Thảm hoạ” có thể hiểu là khi có rất nhiều khiếu nại từ cùng một loại sự cố (ví dụ như nhiều khiếu nại nhỏ về thiệt hại tài sản trong từ sau khi có một cơn bão) hoặc có thể là một số ít các khiếu nại tổn thất lớn (ví dụ như khiếu nại tổn thất thiệt hại phá huỷ một toà nhà lớn trong một vụ cháy). Tổn thất trong kinh doanh của các DNBH trong nhiều trường hợp gắn liền với các thảm họa này. Động đất, núi lửa, bão, lụt, gió lốc, và  cuồng phong (bão cấp 8) là những ví dụ của thảm hoạ tự nhiên. Bên cạnh thảm hoạ tự nhiên thì các DNBH còn phải đối diện với các thảm hoạ do con người gây ra. Sự kiện khủng bố ngày 11/09/2001 được Warren Buffet (CEO của Berkshire Hathaway) coi là một “đại thảm hoạ” và thừa nhận là sai lầm khi đã không định giá đối với các tổn thất liên quan trong kinh doanh bảo hiểm. Tổn thất thảm họa từ vụ khủng bố lịch sử này là một trong những nguyên nhân chính khiến Công ty bảo hiểm hàng hải và hoả hoạn Taisei (Nhật Bản) đã rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán sau đó (Massey & et al., 2002).
Nhìn chung, rủi ro bảo hiểm khác nhau phụ thuộc nhiều vào đặc điểm đặc thù của sản phẩm bảo hiểm. Một số sản phẩm bảo hiểm có mức độ rủi ro thấp hơn so với các sản phẩm bảo hiểm khác.

Rủi ro thị trường

Rủi ro thị trường là loại rủi ro khiến cho các DNBH có khả năng gặp tổn thất và bị suy giảm vị trí kinh tế trên thị trường bảo hiểm liên quan đến tính dễ biến động trong giá trị thị trường của tài sản và của các khoản nợ. Trước hết, biến động của các loại giá cả trên thị trường tài chính có thể gây tổn thất về quyền chọn và tổn thất về giá trị tài sản thực của DNBH, gồm cả tài sản cần có để trang trải cho các khoản nợ, và do vậy cũng có ảnh hưởng đến lợi nhuận thực của DNBH. Thêm vào đó, các rủi ro thị trường này cũng ảnh hưởng tiềm tàng đến luồng tiền nợ bảo hiểm của DNBH qua tỷ lệ chiết khấu hoặc qua các thoả thuận phân chia lợi nhuận giữa DNBH với chủ HĐBH (ví dụ trong BH liên kết đơn vị hoặc BH phổ thông).
Các rủi ro thị trường của DNBH có thể là: Rủi ro lãi suất, Rủi ro bất động sản và cổ phiếu, Rủi ro tiền tệ, Rủi ro tái đầu tư, Rủi ro lạm phát,….

Rủi ro tín dụng

Là rủi ro DNBH có khả năng bị tổn thất tài chính do vỡ nợ hoặc biến động trong chất lượng tín dụng của người phát hành chứng khoán, của các chủ nợ (ví dụ như người thế chấp), của các bên đối tác của DNBH, và của các trung gian bảo hiểm. Rủi ro tín dụng của DNBH có thể phát sinh từ: đối tác đầu tư của DNBH; chủ hợp đồng bảo hiểm; nhà tái bảo hiểm; ….
Rủi ro tín dụng của DNBH có gồm: Rủi ro vỡ nợ, Rủi ro tập trung, Rủi ro bị hạ bậc đánh giá, Rủi ro tín dụng tái bảo hiểm,….Chẳng hạn, khi các nhà tái bảo hiểm mất khả năng thanh toán vì một lý do nào đó, DNBH cũng sẽ khó truy đòi trách nhiệm của nhà tái bảo hiểm, và trước mắt DNBH sẽ nhanh chóng dồn đống khoản nợ lớn trong khi họ không còn tiền để chi trả bồi thường vì đã chuyển một phần lớn phí bảo hiểm cho nhà tái bảo hiểm.
Công ty bảo hiểm phi nhân thọ của Mỹ Mission Insurance Company là một trường hợp điển hình gặp phải rủi ro tín dụng tái bảo hiểm. Việc mất khả năng thanh toán của công ty bảo hiểm này năm 1985 do nhiều nguyên nhân. Tuy nhiên, nguyên nhân chính là Missionđã tái rất nhiều HĐBH với tỷ lệ tái cao cho khoảng 600 nhà tái bảo hiểm. Trong số này, có nhiều nhà tái bảo hiểm không được kiểm soát.

Rủi ro hoạt động

Là những rủi ro liên quan đến việc DNBH (và những người hoạt động trong/cho DNBH) không đáp ứng tốt các yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước, liên quan đến việc thực hiện không đúng các qui trình hoạt động của DNBH. Như vậy, rủi ro hoạt động có thể phát sinh ngay từ trong hoạt động của DNBH hoặc từ các tác động và sự kiện ở bên ngoài. Có thể nói, rủi ro hoạt động khá đa dạng, ảnh hưởng đến DNBH nhiều hơn so với các rủi ro khác và đặc biệt có nhiều rủi ro khó lượng hoá vì tính chất định tính nhiều hơn trong khi dữ liệu của các DNBH liên quan đến rủi ro này hoặc là không có hoặc là không nhất quán với nhau. Theo điều tra của KPMG, trong tổng số vốn dựa vào rủi ro của một DNBH thì phần vốn cần thiết đề đảm bảo trang trải bù đắp cho các rủi ro hoạt động chiếm từ 8-20%.
Các rủi ro hoạt động trường có trong DNBH là:
Rủi ro tranh chấp là một dạng rủi ro pháp lý, thường phát sinh trong quá trình giải quyết chi trả bồi thường. Rủi ro tranh chấp của DNBH có 2 loại:
Tranh chấp giữa DNBH với bên được bảo hiểm khi giữa DNBH và người khiếu nại đòi chi trả bồi thường không nhất trí được với nhau về tất cả các điều kiện thanh toán của khiếu nại. Thông thường, tranh chấp giữa bên được BH với DNBH thường xoay quanh phạm vi trách nhiệm của bảo hiểm và mức chi trả bồi thường. Chủ HĐBH hoặc người thụ hưởng có quyền khiếu  nại ra toà khi DNBH từ chối bồi thường chi trả hoặc khi họ thấy không thoả mãn với số tiền mà DNBH bồi thường chi trả.
Nếu việc từ chối bồi thường chi trả của DNBH là chính xác thì chi phí cho vụ kiện của DNBH chỉ giới hạn là chi phí cho việc bảo vệ vụ kiện. Tuy nhiên các chi phí này có thể không nhỏ vì chúng bao gồm không chỉ phí cho luật sư và các chi phí pháp lý khác, mà còn cả chi phí thời gian mà NBH phải bỏ ra để thu thập thông tin, xin tư vấn luật sư, cung cấp lời khai bằng chứng, và khai báo trước toà. Mặc dù, các DNBH nói chung sẽ thuê tư vấn luật ở bên ngoài nhưng họ thường phải yêu cầu cả nhân viên của mình và đôi khi cả trung gian BH giúp đỡ thêm cho tư vấn luật bên ngoài. 
Tranh chấp khiếu nại của bên thứ ba trong kinh doanh các sản phẩm bảo hiểm trách nhiệm. Lúc này, đối với DNBH, nhiệm vụ bào chữa cho người được bảo hiểm trong các đơn bảo hiểm trách nhiệm cũng quan trọng ngang, thậm chí là hơn, với nhiệm vụ bồi thường. Nhiều DNBH bỏ không ít tiền vào các luật sư biện hộ bên ngoài ngang với số tiền họ trả lương cho nhân viên giám định bồi thường và phí trả cho giám định độc lập cộng lại.
Có thể nói, rủi ro phát sinh từ quá trình tranh chấp giữa DNBH với các bên có liên quan cũng khá tốn kém cho các DNBH, khiến cho các DNBH phải nhìn nhận ra rằng ngăn ngừa tranh chấp phải là một phần chủ động tích cực trong hoạt động giám định xét bồi thường nói riêng và trong công tác quản trị doanh nghiệp nói chung.
Rủi ro không tuân thủphát sinh do DNBH, do nhân viên của DNBH hoặc gián tiếp do các đại lý đã không tuân thủ theo quy định pháp luật trong quá trình thực hiện các hoạt động nghiệp vụ. Loại rủi ro này phát sinh từ việc không tuân thủ việc khai thác như cạnh tranh bất hợp pháp, trục lợi bảo hiểm, vi phạm về bí mật thông tin, vi phạm về sử dụng điều khoản, qui tắc, biểu phí, hoa hồng, vi phạm về tuyển dụng, đào tạo, sử dụng và hoạt động đại lý,…; Hoặc từ việc không tuân thủ về chế độ tài chính kế toán và báo cáo. Trong thực tiễn kinh doanh bảo hiểm, việc báo cáo sai các kết quả kinh doanh một cách chủ ý vay vô ý diễn ra khá nhiều. Và đôi khi, các bên có liên quan như nhà đầu tư hay cơ quan quản lý nhà nước lại có thể nhận định, đánh giá khả năng thanh toán và hoạt động của DNBH qua các việc báo cáo sai. Một DNBH gần kề với tình trạng mất khả năng thanh toán hoặc thậm chí trên thực tế là mất khả năng thanh toán có thể che dấu điều này và tiếp tục kinh doanh bình thường, phát hành nhiều đơn bảo hiểm hơn với mức phí không đầy đủ và làm cho qui mô của tình trạng mất khả năng thanh toán càng lớn hơn.
Ngoài ra, còn có rất nhiều các rủi ro khác của DNBH được xếp vào nhóm rủi ro hoạt động như Rủi ro gian lận (gian lận nội bộ hoặc gian lận từ bên ngoài); Rủi ro thiệt hại về tài sản của DNBH; Rủi ro liên quan đến việc điều hành, phân phối và quản lý quy trình; Rủi ro dự phòng kỹ thuật không đầy đủ, hoặc quá mức; Rủi ro thuê ngoài và uỷ quyền quản lý quá mức, Rủi ro về danh tiếng, … Rủi ro chiến lược đôi khi được đưa vào nhóm rủi ro hoạt động của DNBH nhưng cũng có thể tách riêng thành một nhóm rủi ro vì nguyên nhân và phạm vi tác động của các rủi ro này. Rủi ro chiến lược là các rủi ro liên quan đến cạnh tranh, nhu cầu khách hàng; xu hướng văn hoá xã hội và dân số; cải tiến kỹ thuật; sự sẵn có vốn; xu hướng chính trị và quản lý kiểm soát nhà nước.
Drake Insurance là công ty bảo hiểm xe cơ giới của Anh, phá sản vào 5/2000, là một ví dụ điển hình việc DNBH gặp rủi ro do cắt bỏ chương trình tái bảo hiểm (rủi ro tái bảo hiểm không đầy đủ).
Rủi ro thuê ngoài và uỷ quyền quản lý quá mức là một trong các nguyên nhân quan trọng khiến dẫn đến tình trạng phá sản của công ty bảo hiểm Transit Casualty (Mỹ) năm 1985 và công ty bảo hiểm hàng hải và hoả hoạn Taisei (TFMT) của Nhật Bản năm 2001. Hầu hết các giao dịch trên thị trường Mỹ, TFMT uỷ quyền giao hết cho Fortress Re Inc. (Đại lý Bảo hiểm hàng không ở North Carolina, Mỹ).

DNBH Việt Nam và rủi ro trong kinh doanh bảo hiểm

Thị trường bảo hiểm Việt Nam non trẻ. Nhiều DNBH đang trong quá trình thành lập và phát triển. Nhưng không ít các minh chứng cho thấy có những DNBH Việt Nam đã gặp phải rủi ro này hay rủi ro khác trong quá trình kinh doanh. Đó có thể là rủi ro theo đuổi các vụ kiện tranh chấp liên quan đến bồi thường bảo hiểm. Nhiều vụ kiện ở nước ta mà phía bị đơn là các công ty bảo hiểm đã xảy ra. Thiệt hại đối với công ty bảo hiểm không chỉ đong đếm ở phần tổn thất cuối cùng được phán quyết thuộc phạm vi bảo hiểm và phải trả cho phía người được bảo hiểm dù phía các công ty bảo hiểm chưa thực sự tâm phục khẩu phục. Các công ty bảo hiểm phải chịu còn là chi phí công sức, thời gian, tiền thuê luật sư trong nhiều năm theo kiện. Cũng có thể đó là rủi ro liên quan đến gian lận bảo hiểm từ cả trong nội bộ và gian lận từ bên ngoài. Uy tín và thị phần của công ty bảo hiểm từ đó bị suy giảm. Một thị trường bảo hiểm tăng trưởng và phát triển với các đơn bảo hiểm có giá trị lớn, cần phải tái bảo hiểm cũng ẩn chứa các nguy cơ cho các công ty bảo hiểm Việt Nam.
Quản lý rủi ro của chính DNBH cần phải được đặt ra trong chiến lược kinh doanh của các DNBH Việt Nam. Điều trước hết mà các DNBH phải làm được là nhận thức tầm quan trọng của vấn đề này. Cùng với đó là nhận dạng, xác định, phân biệt được các rủi ro của DNBH nói chung và của riêng doanh nghiệp mình.

Tài liệu tham khảo: 


Groot, P. d. (2005). Risi and capital management - a new perspective for insurers. The Netherlands: KPMG.
Massey, R., & et al. (2002). Insurance Company Failure. General Insurance Convention (GIC).
Orr, J., & et al. (2002). Operational Risks. General Insurance Covention (GIC).






[1]Đăng trên Tạp chí Bảo hiểm Số 4/2011, p.16-21

Social Insurance

Trốn đóng BHXH - Thực tiễn và kinh nghiệm giải quyết ở một số nước

05:57

Ths. Tôn Thị Thanh Huyền
Khoa Bảo hiểm – ĐH KTQD
Đã đăng tạp chí BHXH, Số tháng 9/2010- Kỳ 2 và Số tháng 10/2010- Kỳ 1

Trốn đóng BHXH xảy ra ở khắp nơi trên thế giới, kể cả ở các hệ thống BHXH của các nước phát triển. Mục đích và yêu cầu đặt ra đối với các tổ chức BHXH trong công tác quản lý BHXH do vậy là phải đảm bảo được sự tuân thủ pháp luật về đóng góp BHXH phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của từng nước. Bài viết này tìm hiểu kinh nghiệm giải quyết vấn đề trốn đóng BHXH của một số nước trên thế giới. Những kinh nghiệm này cũng thực sự quý báu cho các nhà quản lý BHXH ở Việt Nam.

Cơ sở  pháp lý để xác định trốn đóng BHXH

Trong hệ thống BHXH bắt buộc, nghĩa vụ và trách nhiệm đóng góp được cụ thể hoá trong các qui định luật và dưới luật. Đây chính là căn cứ pháp lý để có thể xác định được các trường hợp trốn đóng BHXH và ở mức độ nào.  
Cơ sở pháp lý đầu tiên phải nhắc đến là qui định các đối tượng phải tham gia BHXH. Pháp luật BHXH các nước sẽ qui định cụ thể các nhóm người lao động và người người sử dụng lao động phải thực hiện đăng ký tham gia và đóng góp vào quĩ BHXH. Căn cứ thứ hai là các qui định về mức đóng BHXH bắt buộc. Người lao động phải đóng theomột tỷ lệ phần trăm nhất định so với lương được BHXH, còn người sử dụng lao động phải đóng theo một tỷ lệ phần trăm nhất định so với tổng quĩ lương được BHXH. Trong quản lý BHXH, trên cơ sở kiểm tra đối chiếu thực tế với các qui định này, có thể xác định được các hình thức trốn đóng và mức trốn đóng cụ thể. Một cơ sở pháp lý nữa để xác định trốn đóng là qui định về thời hạn nộpTheo pháp luật BHXH của các nước, người sử dụng lao động phải chuyển tiền đóng BHXH và báo cáo thu nộp BHXH lên cho tổ chức BHXH vào một ngày nhất định. Tuy nhiên, để đảm bảo tính linh hoạt hợp lý, phần lớn các nước đều giới hạn thời gian thanh toán tính từ ngày qui định phải nộp tiền đóng BHXH. Đây là thời gian gia hạn hay ân hạn. Nếu quá thời hạn này, người tham gia BHXH bắt buộc vẫn chưa chuyển tiền BHXH và bản báo cáo thu nộp thì tự động được coi là vi phạm pháp luật BHXH và bị xử phạt.

Các hình thức trốn đóng bảo hiểm xã hội

Hiểu một cách rộng nhất, trốn đóng BHXH là không thanh toán khoản tiền BHXH phải nộp theo quy định. Để trốn đóng BHXH, các đối tượng tham gia có nhiều hình thức cụ thể với mức độ tinh vi khác nhau.
Hình thức trốn đóng BHXH rõ ràng nhất là các đối tượng thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc hoàn toàn không đăng ký tham gia BHXH. Hình thức này rất dễ nhận thấy ở những nước mà sự cưỡng chế tuân thủ luật không hề có hiệu quả, trốn đóng BHXH diễn ra tràn lan. Có các trường hợp chủ sử dụng lao động đăng ký BHXH rồi nhưng lại không chuyển tiền đóng BHXH. Chẳng hạn như ở Brazil chỉ trong một vài năm, mặc dù các doanh nghiệp đã đăng ký tham gia BHXH nhưng trong số đó vẫn có hơn 50.000 doanh nghiệp không đóng góp bảo hiểm hưu cho người lao động (World Bank, 1994).
Tinh vi hơn và “sáng tạo” hơn là các hình thức trốn đóng một phần. Tức là các đối tượng tham gia BHXH vẫn đăng ký đóng BHXH theo quy định nhưng tìm mọi cách để chỉ đóng một phần so với toàn bộ số tiền phải đóng BHXH theo nghĩa vụ. Trốn đóng một phần là khi thu nhập của người lao động không được khai báo đầy đủ để chỉ đóng một số tiền đóng BHXH nhỏ hơn số tiền BHXH nhẽ ra phải đóng tính theosố thu nhập thực tế mà người lao động nhận được. Hình thức trốn đóng dựa vào khai giảm mức thu nhập về cơ bản thường đòi hỏi có sự cấu kết giữa người lao động và người sử dụng lao động. Trốn đóng một phần ở dạng khác là khi người sử dụng lao động không đóng cho toàn bộ số lao động của mình bằng cách khai giảm số lượng lao động; hoặc khai báo số lượng lao động ít hơn mức qui định phải đóng góp BHXH. Chẳng hạn, nếu luật pháp BHXH qui định doanh nghiệp có từ 10 lao động trở lên mới phải đóng BHXH thì doanh nghiệp chỉ khai báo sử dụng dưới 10 lao động. 
Chậm đóng bằng cách trì hoãn việc kết chuyển tiền đóng BHXH cho cơ quan quản lý thu BHXH cũng được coi là một hình thức trốn đóng (Bailey, C. và Turner, J., 1997; World Bank, 1994). Trong các trường hợp chậm đóng, tệ hại nhất là người sử dụng lao động đã chiết trừ phần đóng góp BHXH của người lao động nhưng vẫn chưa chịu chuyển tiền đóng góp này cùng với phần đóng góp thuộc trách nhiệm của họ cho tổ chức BHXH. Bởi vì, như vậy có nghĩa là người sử dụng lao động lừa gạt, chiếm dụng số tiền đóng BHXH của người lao động. Và mặc dù người lao động đã tuân thủ thực hiện nghĩa vụ của mình song quyền hưởng BHXH của họ có thể bị tước đoạt do hành vi vi phạm của người sử dụng lao động.
Trong nghiên cứu của mình, Clive Bailey và John Turnercòn phân biệt giữa tránh đóng (contribution avoidance) với trốn đóng BHXH (evasion). Họ xác định tránh đóng có mối quan hệ mật thiết với trốn đóng. Tránh đóng BHXH là khi người sử dụng lao động thu xếp, thiết kế các công việc và trả công sao cho người lao động của mình hoặc khi chính bản thân người lao động tự làm cho mình trở thành lao động thuộc khu vực phi chính thức. Bởi vì, ở nhiều nước, BHXH bắt buộc chỉ áp dụng đối với lao động thuộc khu vực chính thức. Do đó, lao động thuộc khu vực phi chính thức sẽ không thuộc nhóm phải đóng BHXH. Chẳng hạn, người sử dụng lao động thuê lao động một cách không chính thức (không đưa vào danh sách bảng lương); hoặc chính người lao động tự khai báo khai báo mình là lao động tự tạo việc làm để tránh đóng BHXH. Tuy nhiên, Ngân hàng thế giới (1994) coi việc né tránh đóng góp như vậy vẫn là một hình thức trốn đóng BHXH.
Vì trốn đóng là hành vi phạm pháp nên các đối tượng tham gia BHXH trốn đóng đều tìm cách che đậy. Điều này khiến cho việc tiếp cận các dữ liệu chính xác về việc trốn đóng nhìn chung không dễ dàng. Tuy vậy, số liệu ước tính về tình hình tuân thủ đóng góp ở một số nước đang phát triển cho thấy có đến 50-60% số tiền đóng BHXH bắt buộc không được thanh toán cho tổ chức BHXH. Trong những năm 1980, tỷ lệ trốn đóng và chậm đóng tăng lên đến 60% ở Brazil. Trốn đóng ước tính là 49% ở Argentina vào đầu những năm 1990 và 33% ở Peru (Nitsch & Scwarzer 1996). Ở Thổ Nhĩ Kỳ, chỉ có 1% thành viên đăng ký là thực hiện đóng góp thường xuyên cho chương trình hưu Bag-Kur dành cho người lao động tự tạo việc làm (World Bank, 1993).

Nguyên nhân và hậu quả của trốn đóng BHXH

Các nguyên nhân dẫn đến không tuân thủ đóng góp BHXH cần phải được nhìn nhận, đánh giá đa chiều và trong mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau của các tác nhân bởi nhiều lý do. Các nguyên nhân có thể là chủ quan từ nhận thức và ý thức của các chủ thể vi phạm, có thể khách quan do các tác động từ môi trường hoạt động của hệ thống BHXH như khung pháp lý BHXH; vai trò của tổ chức công đoàn;… Các nguyên nhân có thể chỉ từ một chủ thể nhưng có thể phát sinh đồng thời từ nhiều chủ thể. Chẳng hạn, trốn đóng có thể là do cấu kết giữa người lao động và người sử dụng lao động.  Một nguyên nhân dẫn đến vi phạm có thể được “cộng dồn” thêm bởi một hay nhiều nguyên nhân khác. Chẳng hạn, một doanh nghiệp có ý thức tuân thủ nghĩa vụ đóng góp BHXH kém lại đang ở trong tình trạng tài chính khó khăn nên càng tìm cách trốn đóng BHXH.
Nguyên nhân từ phía các đối tượng tham gia BHXH tập trung vào 3 nhóm chủ yếu là:
- Nhận thức không đầy đủ về quyền lợi và nghĩa vụ BHXH. Đối tượng chính không tuân thủ pháp luật đóng góp BHXH là người sử dụng lao động. Họ chỉ mới nghĩ đến lợi nhuận hiện tại mà không nhìn thấy vai trò của việc tham gia BHXH cho người lao động trong chính sách nhân sự, có ảnh hưởng đến lợi nhuận tiềm năng của doanh nghiệp. Đối với người lao động, có không ít trường hợp thực sự không biết mình có quyền được hưởng BHXH và tham gia BHXH. Mặt khác, lại cũng có bộ phận người lao động biết quyền và nghĩa vụ BHXH nhưng lại hiểu không thấu đáo. Tiền đóng BHXH là một khoản chiết khấu từ lương nên họ cho rằng số tiền đó chính là nguyên nhân làm giảm thu nhập hiện tại, và không muốn đóng BHXH.
- Ý thức tuân thủ pháp luật BHXH không tốt. Có những người sử dụng lao động có nhận thức về BHXH nhưng vẫn cố tình trống đóng BHXH hoặc chây ỳ. Phần lớn do người sử dụng lao động là các doanh nghiệp không có chiến lược kinh doanh bền vững mà chủ yếu là làm ăn theo kiểu “chộp giật”, chỉ muốn càng thu được nhiều lợi nhuận hiện tại càng tốt. Cách thường làm là trốn đóng BHXH để giảm chi phí.
Mặc dù nhận thấy lợi ích hiển hiện của BHXH đối với bản thân và gia đình nhưng vẫn có một bộ phận người lao động không đóng BHXH. Lý do chunglà mất niềm tin vào hệ thống BHXH. Họ cho rằng tổ chức BHXH quản lý không hiệu quả khoản tiền mà họ đã đóng góp BHXH. Trong cuộc điều tra năm 1996 của Cơ quan Quản lý BHXH Mỹ, kết quả cho thấy chỉ 35% công chúng tin tưởng vào tương lai của hệ thống BHXH (SSA, 1997). Một số ít các trường hợp người lao động trốn đóng do ý thức tuân thủ kém là vì họ không kỳ vọng sống đến khi nhận được tiền hưu. Một vấn đề đáng nói nữa là có những trường hợp, người lao động hay người sử dụng lao động trốn đóng đơn giản chỉ vì họ không thích đóng. Nhất là khi trốn đóng BHXH không bị coi là hành vi phi đạo đức và là hành vi có thể chấp nhận được (Bailey & Turner 1997, WB 1994).
- Tình trạng khó khăn về tài chính
Một số người sử dụng lao động bước đầu khởi sự kinh doanh, vốn ít và còn nhiều khó khăn nên đôi khi lờ đi trách nhiệm và nghĩa vụ BHXH cho người lao động. Khá hơn một chút là họ có đăng ký tham gia BHXH nhưng không đầy đủ, chỉ tập trung cho một số ít người lao động cần thiết. Một số khác lại đang ở trong tình trạng làm ăn suy yếu, có xu hướng thua lỗ, do đó sẽ chây ỳ đóng BHXH hoặc chiếm dụng tiền đóng BHXH để tăng vốn làm ăn. Nguyên nhân này càng bộc lộ rõ trong các giai đoạn khủng hoảng nền kinh tế, lạm phát cao.
Nguyên nhân từ phía tổ chức BHXH gắn với năng lực quản lý. Cụ thể:
- Thiết kế các quy trình nghiệp vụ chưa tốt. Ở các nước có tỷ lệ tuân thủ thấp, qui trình và thủ tục đăng ký BHXH, qui trình thu BHXH, cho đến qui trình xét hưởng chi trả BHXH bị đánh giá còn rườm rà, làm tăng chi phí tuân thủ cho các đối tượng tham gia.
- Thanh kiểm tra BHXH còn hạn chế và chưa phát huy hết chức năng, chưa kiểm soát hết lượng đối tượng tham gia BHXH bắt buộc. Một mặt có thể là do lực lượng thanh tra quá mỏng so với số lượng đối tượng tham gia nên không thể thực hiện thanh tra kiểm tra thường xuyên. Mặt khác có thể là do tư cách đạo đức của thanh tra viên, bị mua chuộc và a tòng với người sử dụng lao động để vi phạm pháp luật.
- Mối quan hệ phối hợp với các bên có liên quan trong quản lý đối tượng tham gia như công đoàn, cơ quan quản lý lao động, các cơ quan liên quan đến việc cấp giấy phép hoạt động cho các doanh nghiệp,… chưa chặt chẽ cũng làm cho mức độ tuân thủ đóng góp BHXH sẽ bị giảm đi.
- Một nguyên nhân sâu xa dẫn đến trốn đóng BHXH của các đối tượng tham gia là hoạt động tuyên truyền giáo dục BHXH còn hạn chế. 
Nguyên nhân trốn đóng BHXH còn xuất phát từ phía môi trường cho hoạt động tuân thủ của các đối tượng tham gia BHXH. Đây là những nguyên nhân mang tính khách quan, tạo thêm cơ chế thuận lợi để các đối tượng dễ dàng không tuân thủ pháp luật (Bailey & Turner 1997, World Bank 1994). Gồm:
-    Qui định chính sách BHXH chưa thật rõ ràng, chưa ổn định và không tạo được sự hấp dẫn nên làm cho người sử dụng lao động và người lao động nhận thức không đầy đủ, thậm chí là hiểu sai về BHXH.
-    Khung pháp lý về BHXH chưa hoàn chỉnh. Chẳng hạn, pháp luật BHXH không qui định rõ về quyền hạn của thanh tra BHXH. Quy định về xử phạt vi phạm về BHXH không đủ mức làm công cụ ngăn chặn vi phạm của người sử dụng lao động.
-    Môi trường kinh doanh cùng với các thay đổi trong chính sách phát triển kinh tế không thuận lợi làm cho người sử dụng lao động có thêm động cơ trốn đóng.
-    Thị trường lao động không cân bằng với cung lớn hơn cầu cũng là một nguyên nhân. Khi số lượng công việc không nhiều, vì vị trí công việc đã có được, người lao động không thể bày tỏ thái độ phản ứng đối với hành vi vi phạm đóng góp BHXH. Khả năng tìm kiếm việc làm của người lao động hạn chế càng dễ dàng cho người sử dụng lao động không tuân thủ đóng góp.
-    Vai trò của tổ chức công đoàn tại các đơn vị sử dụng lao động (đặc biệt là các doanh ngiệp nhỏ) hoặc không có hoặc chưa thực sự phát huy và thậm chí không bảo vệ được quyền lợi BHXH của người lao động.
Trốn đóng BHXH để lại hậu quả nhiều mặt. Trước hết là làm mất công bằng giữa những người đóng góp và những người không đóng góp. Quỹ BHXH không đảm bảo đủ nguồn thu (do trốn đóng nghiêm trọng) có thể đòi hỏi phải cân đối lại bằng cách điều chỉnh tăng tỷ lệ đóng góp bắt buộc. Song, đối với những đối tượng tham gia tuân thủ luật thì điều chỉnh này lại không công bằng vì nó làm cho tỷ lệ đóng góp cao hơn so với mức họ cần phải đóng. Khi người lao động chuyển sang làm việc trong khu vực phi chính thức hoặc chuyển công việc khác để tránh đóng BHXH, các quyết định phân bổ lao động trên thị trường lao động bị biến dạng. Năng suất lao động do đó cũng giảm và làm giảm tăng trưởng kinh tế. Ước tính ở Uruguay năm 1988 cho thấy số giờ làm việc không được báo cáo chiếm hơn 30% tổng số giờ làm việc, và ước tính tổn thất số thu là 3% GDP (World Bank, 1994). Mục đích của các chương trình hưu bắt buộc là đảm bảo cho người dân có một nguồn hỗ trợ nào đó khi về già. Tuy nhiên, trốn đóng BHXH làm cho mục đích này không đạt được. Trong trường hợp tồi tệ nhất, trốn đóng có thể làm cho hệ thống BHXH rơi vào các tình trạng khó khăn tài chính nghiêm trọng. Ở một số nước châu Mỹ Latinh và châu Á, tình trạng này đã làm cho hệ thống BHXH sụp đổ vì thu của hệ thống thấp hơn rất nhiều so với mức cần có để đáp ứng nhu cầu chi trả trợ cấp. Tỷ lệ trốn đóng cao đến mức 50% ở Argentina đã làm cho chương trình hưu rơi vào tình trạng thâm hụt trầm trọng, cộng thêm gánh nặng cho ngân sách nhà nước và cuối cùng thì dẫn đến việc phải áp dụng một hệ thống mới. Nhiều nước rơi vào vòng luẩn quẩn giống nhau về mất mát niềm tin và gia tăng tỷ lệ trốn đóng, làm tê liệt tài chính BHXH như Argentina, Brazil, Thổ Nhĩ Kỳ, một số nước Đông Âu (Bailey & Turner, 1997).

Giải quyết vấn đề trốn đóng BHXH

Không tuân thủ đóng góp BHXH diễn ra ở nhiều nước và gây ra nhiều hậu quả cả hiện tại và lâu dài đối với hệ thống BHXH của các nước. Chính vì vậy,  đã có nhiều nghiên cứu và bàn luận nhằm tìm cách hạn chế tình trạng này.

Giáo dục nhận thức về BHXH

Theo Giáo sư Noriyasu Watanabe (2006), chủ tịch Viện nghiên cứu Quốc tế về trợ cấp hưu của Nhật Bản, đào tạo và giao tiếp với công chúng là một biện pháp tích cực để các đối tượng tham gia hiểu và có ý thức hơn trong việc tham gia BHXH, từ đó nâng cao mức tuân thủ đóng góp. Để đạt được kết quả lâu dài trong việc tuân thủ đóng góp BHXH, tổ chức BHXH cần thực hiện tuyên truyền về BHXH, triển khai các chiến dịch “marketing” để nâng cao nhận thức công chúng về BHXH. Các biện pháp giáo dục nhận thức công chúng như thế này sẽ tạo ra được nhu cầu tham gia BHXH thay vì cưỡng chế (Pontjowinoto, 2006). Tổ chức BHXH Jordan hợp đồng với một công ty quảng cáo chuyên nghiệp để thực hiện chiến dịch truyền thông của mình. Chiến dịch này nhấn mạnh tầm quan trọng của cam kết thực hiện đóng góp; các bất lợi đối với người sử dụng lao động khi việc không khai báo đầy đủ về số lượng lao động, báo cáo không đầy đủ tiền lương của người lao động; và các hậu quả pháp lý nếu trốn đóng BHXH.

Phối kết hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng khác có liên quan

Đây cũng là kinh nghiệm của nhiều nước nhằm đạt được mức tuân thủ đóng góp BHXH cao hơn. Đặc biệt, trong các tổ chức có liên quan, tất cả các nước đều nhấn mạnh đến vai trò của tổ chức công đoàn. Chẳng hạn, PT JAMSOSTEK (Inđônêxia) ký hợp tác với các liên đoàn lao động để phổ biến thông tin về các chương trình BHXH cho người lao động (Pontjowinoto, 2006).

Tăng cường vai trò và quyền lực của thanh tra BHXH

Thanh tra đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong hoạt động tuân thủ. Pháp luật BHXH ở nhiều nước có các quy định rõ thẩm quyền của thanh tra BHXH để kiểm tra và thậm chí là thực hiện cưỡng chế ban đầu đối với các trường hợp không tuân thủ đóng góp BHXH. Họ có quyền kiểm tra các tài khoản, bảng cân đối, sổ sách báo cáo tài chính liên quan đến đặc điểm công việc, số lượng lao động, lương của người lao động, phương thức tính và chi trả lương. Theo Luật ASXH của Jordani, Tổng Giám đốc hoặc nhân viên của tổ chức BHXH được Tổng Giám đốc uỷ quyền có tư cách của cảnh sát thi hành án, được thu tập bất kỳ tài liệu nào liên quan đến việc trốn đóng BHXH. Để hạn chế và phòng tránh việc ăn hối lộ của thanh tra viên, các tổ chức BHXH áp dụng nhiều biện pháp khác nhau để động viên thanh tra BHXH. Ví dụ, ở Syriathanh tra được trả trợ cấp ngoài giờ. Trong khi đó, thanh tra ở Yemen được cấp một khoản tiền thưởng liên quan đến công việc đã làm được cộng thêm lệ phí đi lại. Jordancấp một khoản tiền hàng tháng cho thanh tra của họ tương đương với 103$, trong khi ở Kuwaitkhoản tiền này là 346$.

Tăng cường tính hiệu lực và thực thi các chế tài BHXH

Truy thu tiền đóng BHXH và xử phạt. Kể từ khi hết thời gian ân hạn qui định, tổ chức BHXH thực hiện truy thu tiền đóng BHXH và cả số tiền lãi từ trốn đóng BHXH. Mức tiền lãi xác định theo lãi suất tiền vay quá hạn do Ngân hàng Nhà nước qui định tại thời điểm truy nộp; hoặc lãi suất hoạt động đầu tư quĩ BHXH trong năm. Ngoài khoản truy thu cả tiền nợ BHXH lẫn tiền lãi, các tổ chức BHXH còn thực hiện phạt đối với các trường hợp vi phạm. Khoản tiền phạt được tính theo một tỷ lệ phần trăm cố định so với số tiền đóng BHXH hàng tháng và tính trên cơ sở tích luỹ. Tỷ lệ tiền phạt phải cao hơn lãi ngân hàng để đảm bảo tính răn đe đối với người vi phạm. Ở Ả rập Xêut, trong 15 ngày đầu của tháng, nếu không thanh toán trong thời gian đó thì người sử dụng lao động sẽ phải nộp một khoản tiền phạt vì sự chậm trễ bằng 2% khoản tiền đóng góp chưa nộp cho một tháng hoặc theo phần thời gian chậm trễ trong tháng. Người sử dụng lao động nào không tuân thủ bất kỳ một điều khoản luật nào sẽ bị phạt một khoản không dưới 1334$.
Truy tốCác trường hợp chậm đóng, trốn đóng ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của người lao động đòi hỏi phải có hành động pháp lý mạnh hơn là truy tố ra trước pháp luật. Biện pháp này không những đảm bảo mang lại quyền lợi cho những người lao động mà còn có tác động răn đe đối với các kẻ tội phạm tiềm ẩn khác. Tuy nhiên, khi áp dụng biện pháp này, tổ chức BHXH cần phải có đủ chứng cứ và hiểu biết rõ các thủ tục pháp lý liên quan để đảm bảo truy tố thành công đối với các trường hợp phạm tội. Nếu vi phạm đóng góp của người sử dụng lao động đặc biệt nghiêm trọng, một số nước còn thực hiện truy cứu trách nhiệm hình sự.
Các biện pháp kết hợp khác. Để thực hiện cưỡng chế tuân thủ đóng góp đạt kết quả, các tổ chức BHXH còn có thể thực hiện thêm nhiều biện pháp khác như phong toả tài khoản; đình chỉ hoạt động; thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Hoàn thiện môi trường cho hoạt động tuân thủ

Để hoạt động tuân thủ đóng góp đạt được  mức cao, khung pháp lý cho hoạt động BHXH phải đảm bảo hoàn thiện và vững chắc. Các qui định pháp lý về BHXH phải tối thiểu hoá được các vướng mắc và không rõ ràng về trách nhiệm, ngày đến hạn chuyển khoản, v.v… cũng như làm rõ được các hình thức phạt (chế tài) đối với các trường hợp không tuân thủ pháp luật.

Nhìn lại Việt Nam

Tình trạng trốn đóng BHXH ở nước ta hiện nay đang là vấn đề nổi cộm trong quản lý BHXH. Theo số liệu từ BHXH Việt Nam, bình quân từ năm 2006 đến nay, nợ chậm đóng BHXH chiếm khoảng từ 6,5% -7% so với tổng số thu mỗi năm. Khoản nợ BHXH khó đòi[1] tính đến 30/6/2009 là 537 tỷ đồng. Nguyên nhân có nhiều, cả khách quan và chủ quan. Mặc dù đã có các biện pháp nhất định để khắc phục tình trạng này nhưng dường như chưa thực sự có biến chuyển. Tỷ lệ tham gia BHXH bắt buộc vẫn còn thấp. Các kinh nghiệm giải quyết trốn đóng ở một số nước là những gợi ý thiết thực cho tổ chức BHXH Việt Nam; Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, và Chính phủ trong vấn để này.

TÀI LIỆU THAMKHẢO:

1.      Bailey, C. & Turner J. (1997), Contribution evasion and social security: causes anh remedies, ILO, Geneva
2.      World Bank (1993), The Turkish Pension System, WashingtonD.C.
3.      World Bank (1994), Averting the old age crisis- policies to protect the old and promote growth, Brief Issue 7 – Evasion, Oxford University Press.
4.      SSA (1997), Increasing Public Understanding of Social Security, Social Security Advisory Board, America.
5.      Pontjowinoto, I. P. (2006), Administrative innovations to improve compliance and enforcement: The Indonesian case, ISSA Regional Conference for in Asia aAsia and the Pacific  New Delhi, India, 21 – 23 November 2006.
6.      Watanabe, N. (2006), Administrative innovations to improve compliance and enforcement: Promoting compliance in social security pension programmes, ISSA Regional Conference for in Asia Asia and the Pacific  New Delhi, India, 21 – 23 November 2006.




[1] Do người sử dụng lao động cố tình chây ỳ chậm đóng kéo dài thời gian từ 6 tháng trở lên.

Social Insurance

Các cơ chế tài chính cho bảo hiểm hưu

05:32


Ths. Tôn Thị Thanh Huyền
Khoa Bảo hiểm- Trường Đại học Kinh tế quốc dân
10/2006[1]

Trong một xã hội ngày càng phát triển, bảo hiểm hưu càng trở nên quan trọng và là mối quan tâm của mỗi người ngay từ khi họ đang còn có khả năng lao động tạo thu nhập đảm bảo cho cuộc sống của mình. Có thể nói, tầm quan trọng của bảo hiểm hưu đã thể hiện ngay trong các cuộc bàn luận tại các nước và ở các hội nghị quốc tế. Bởi vì, đề tài chính trong hầu hết các cuộc bàn luận đều xoay quanh bảo hiểm hưu như mức trợ cấp, tuổi nghỉ hưu,… và một trong những vần đề được nhắc đến nhiều nhất là tính hiệu quả và khả năng tồn tại của các chương trình bảo hiểm hưu. Bài viết này đề cập đến các cơ chế tài chính mà các chương trình bảo hiểm hưu trên thế giới đã áp dụng, đồng thời đưa ra các nhân tố cơ bản cần xem xét khi lựa chọn một cơ chế tài chính thích hợp cho chương trình bảo hiểm hưu của một nước. Cuối cùng, bài viết đưa ra một số ý kiến liên quan đến cơ chế tài chính thích hợp cho bảo hiểm hưu trong hoạt động BHXH ở Việt nam hiện nay.

Bảo hiểm hưu và đặc điểm tài chính bảo hiểm hưu

Xét từ ý nghĩa xã hội, bảo hiểm hưu là biện pháp nhằm thay thế một phần hoặc toàn bộ thu nhập để đảm bảo cho một cá nhân có được mức sống ổn định khi không còn có thu nhập từ lao động vì một lý do nào đó như tuổi già, bị tàn tật, hoặc khi cuộc sống không có đủ nguồn lực do không còn người nuôi dưỡng. Còn nếu xem xét từ đặc điểm thanh toán, bảo hiểm hưu là chương trình bảo hiểm nhằm cung cấp các khoản trợ cấp về cơ bản mang tính định kỳ và dài hạn cho các cá nhân trong các trường hợp tuổi già, tàn tật hoặc mất người nuôi dưỡng – với tên gọi chung bằng tiếng Anh là “pensions”. Như vậy, từ cả hai góc độ chúng ta thấy, bảo hiểm hưu phải bao gồm trợ cấp hưu tuổi già, trợ cấp hưu tàn tật và trợ cấp hưu cho người còn sống (chế độ tử tuất). Đây là cách tiếp cận chung của nhiều nước cũng như của Tổ chức Lao động quốc tế. Tuy nhiên, thực tế ở nước ta hiện nay, việc hiểu thế nào là bảo hiểm hưu lại thường bị giới hạn chỉ ở bảo hiểm hưu tuổi già. Điều này cũng dễ hiểu vì trong ba trợ cấp hưu nói trên thì trợ cấp hưu tuổi già có thể coi là cốt yếu nhất, không chỉ riêng Việt Nam mà còn với nhiều nước khác trên thế giới. Chẳng hạn, Bảng số liệu 1 cho thấy ở Việt Nam, số lượng người được hưởng cũng như mức chi trợ cấp hưu tuổi già chiếm tỷ trọng lớn nhất.
Bảng 1: Số người hưởng hưu và mức chi trợ cấp hưu ở Việt Nam.

1997
2000
2010
2020
2030
Số người được hưởng (nghìn người)
1 793
2 411
1 739
1 808
1 867
- Hưu tuổi già
1 199
1730
1 142
1 204
1 344
- Hưu tàn tật
404
454
332
240
142
- Hưu tử tuất
190
227
265
364
381
Mức chi trợ cấp (tỷ đồng)
5 077
12 807
14 703
27 271
52 071
- Hưu tuổi già
4 185
10 906
12 305
23 839
47 814
- Hưu tàn tật
787
1 606
1 825
2 125
2 019
- Hưu tử tuất
132
295
573
1 307
2 238
·  Số liệu bao gồm đối tượng hưởng trước 1995 và sau 1995
·  Các số liệu của năm 2010, 2020 và 2030 là số liệu dự báo từ năm 1998.
Nguồn:
- Tổng hợp từ bảng số liệu dự báo trong Báo cáo số 24 của ILO năm 1998 về đánh giá tài chính BHXH Việt Nam (ILO/TF/Viet Nam/R.24).
- BHXH Việt Nam 2001

Đặc điểm tài chính bảo hiểm hưu gắn liền với quá trình hình thành quĩ và đặc điểm thanh toán trợ cấp hưu. Trong bảo hiểm hưu, các khoản đóng góp của người tham gia được tập trung vào quĩ và sau một thời gian dài (tổi thiểu thường là 20 năm) mới được sử dụng để chi trả. Như đã đề cập, các khoản trợ cấp hưu lại mang tính định kỳ và dài hạn. Chính vì vậy, bảo hiểm hưu còn được gọi là bảo hiểm dài hạn, và nhìn chung có xu hướng chi tiêu trong tương lai khác các bảo hiểm ngắn hạn:
·        So với thời gian khi bắt đầu thực hiện chương trình, mức chi bảo hiểm hưu ngày càng tăng lên trong nhiều năm sau đó;
·        Các trợ cấp hưu tăng lên cùng với thời gian đóng góp (hoặc thâm niên công tác) của người được bảo hiểm;
·        Khoảng thời gian chi trả trợ cấp hưu trong tương lai có xu hướng dài hơn vì tuổi thọ người dân ngày càng tăng lên. Do vậy, mức chi trợ cấp hưu sẽ ngày càng nhiều hơn.
·        Các trợ cấp hưu thường được điều chỉnh khi mức lương tăng hoặc mức sống tăng.
Các đặc điểm này khiến cho các chương trình bảo hiểm hưu luôn phải đối mặt với các vấn đề phức tạp liên quan đến việc đảm bảo mức trợ cấp hưu thỏa đáng, phù hợp với nhu cầu ngày càng cao của người dân, nhưng đồng thời  cũng phải đảm bảo cho sự tồn tại bền vững cho các chương trình hưu.

Cơ chế tài chính cho bảo hiểm hưu

Cơ chế tài chính của một chương trình bảo hiểm là phương thức bảo đảm cân đối tài chính giữa các khoản thu và các khoản chi của chương trình đó. Nói cách khác, mỗi cơ chế tài chính thể hiện một phương pháp xác định mức đóng góp sao cho đảm bảo chi trả các trợ cấp bảo hiểm khi đến hạn theo nguyên tắc cân đối thu chi. Nhìn chung, cơ chế tài chính áp dụng cho chương trình bảo hiểm hưu cụ thể của một nước thường được qui định trong luật. Các qui định này sẽ đảm bảo sao cho việc áp dụng cơ chế tài chính vừa đủ tính năng động nhưng lại vừa có cơ sở chắc chắn.
Có thể có nhiều cơ chế tài chính cho một chương trình bảo hiểm. Đối với bảo hiểm hưu có đặc điểm là dài hạn, bài viết này giới thiệu một số cơ chế tài chính phổ biến.

Cơ chế tài chính PAYG

Cơ chế tài chính PAYG đã được áp dụng cho bảo hiểm hưu dài hạn ở khá nhiều nước trên thế giới, kể cả những nước công nghiệp phát triển và những nước đang phát triển. Thường gặp nhất là trong các chương trình trợ cấp hưu BHXH của nhà nước. Về nguyên tắc, PAYG là cơ chế tài chính thu đến đâu chi đến đấy (còn gọi là chi theo mức thu) hoặc thu theo nhu cầu chi (còn gọi là thu theo mức chi). Trong chương trình bảo hiểm hưu áp dụng cơ chế PAYG, các khoản đóng góp của những người hiện tại đang tham gia bảo hiểm sẽ được sử dụng để chi trả trợ cấp cho những người đang được hưởng hiện tại. Rõ ràng là với cách cân đối tài chính như thế, cơ chế tài chính này không thực hiện đầu tư tích luỹ để tài trợ cho các khoản chi trợ cấp. Vì vậy, cơ chế tài chính PAYG còn được gọi là cơ chế tài chính không có đầu tư hay cơ chế tài chính không có tài trợ.
Thực tế các nước cho thấy, hệ thống tài chính BHXH theocơ chế PAYG không có các khoản tích luỹ cho giai đoạn sau thường có chu kỳ phát triển trải qua 3 giai đoạn:
(1) Giai đoạn “thanh niên”kéo dài khoảng 20 năm đầu sau khi áp dụng cơ chế. Giai đoạn này chưa có nhiều người về hưu nên tỷ lệ phụ thuộc[2]thấp, mức đóng góp bảo hiểm do vậy có thể chỉ mới ở mức thấp.
(2) Giai đoạn già hoá là giai đoạn trong vòng 20 năm đến 50 năm tiếp theo. Ở giai đoạn này, số người nhận trợ cấp hưu bắt đầu tăng lên, dẫn đến tỷ lệ phụ thuộc tăng dần. Do đó, để đảm bảo cân đối tài chính trong dài hạn, sẽ phải xem xét hoặc tăng mức đóng góp bảo hiểm, hoặc giảm tỷ lệ thay thế [3]. Trên thực tế, việc tăng mức đóng góp dường như dễ dàng hơn so với việc giảm tỷ lệ thay thế.
(3) Giai đoạn già hoá hoàn toàn thường bắt đầu khi cơ chế tài chính PAYG hoạt động được trên 50 năm. Tỷ lệ phụ thuộc trong giai đoạn này tăng lên khá cao đòi hỏi phải tăng mức đóng góp bảo hiểm lên vì mức trợ cấp hưu lúc này không thể giảm xuống quá thấp, ảnh hưởng đến mức sống của người được hưởng.
Cơ chế tài chính PAYG có khá nhiều ưu điểm như: Tính toán đơn giản; độ chính xác cao; gắn liền với kế hoạch ngân sách hàng năm; quyền lợi của người được bảo hiểm được bảo vệ kịp thời của Nhà nước. Tuy nhiên, các đặc điểm của cơ chế tài chính này cũng bộc lộ những nhược điểm lớn ảnh hưởng đến quyền lợi của người được bảo hiểm và người được thụ hưởng cũng như sự tồn tại của hệ thống. Trong cơ chế PAYG không có tích luỹ, tại một thời điểm nhất định sẽ luôn có một khoản nợ gọi là “nợ lương hưu tiền ẩn”, đó chính là giá trị hiện tại của các khoản thanh toán trong tương lai. Với thực tế mức sống và tuổi thọ người dân ngày càng cao, dân số già hoá nhanh sẽ làm cho khoản nợ càng ngày càng trở thành gánh nặng cho thế hệ những người tham gia đóng góp hiện tại và tương lai. Cụ thể, chương trình bao rhiểm hưu theo cơ chế PAYG đang bước vào giai đoạn già hoá hoàn toàn, mức đóng góp bảo hiểm sẽ phải xem xét lại và nâng lên. Tuy nhiên, nếu tăng tỷ lệ phí BHXH dài hạn cao hơn nữa thì sẽ có những tác động xấu đến tâm lý của người tham gia đóng góp bảo hiểm. Do đó, việc thực hiện đóng góp có thể sẽ không hiệu quả. Mặt khác, nhu cầu về lao động sẽ giảm, từ đó ảnh hưởng tiêu cực đến vấn đề tạo việc làm trong nền kinh tế cũng như các hoạt động kinh tế có thể bị suy giảm, ảnh hưởng cả về mặt kinh tế và xã hội.

Cơ chế tài chính có đầu tư

Trong cơ chế tài chính có đầu tư, các khoản đóng góp của người tham gia bảo hiểm được tích luỹ lại và đầu tư theo nhiều cách: gửi Ngân hàng, mua trái phiếu, cổ phiếu, kinh doanh bất động sản... để thu lãi. Sau đó, khoản tiền đã đóng góp tích lũy được cùng với phần thu nhập từ đầu tư được phân bổ lại cho người thụ hưởng khi họ đáp ứng đủ điều kiện qui định. Cơ chế tài chính này thực hiện cân đối tổng nguồn thu vào quĩ và tổng số chi ra từ quĩ trong một thời hạn dài, chẳng hạn 20, 30, 40…. năm.
Cơ chế tài chính có đầu tư có khá nhiều ưu điểm. Thứ nhất, mối quan hệ giữa mức đóng và mức trợ cấp được thể hiện một cách rõ ràng, chặt chẽ. Một người có thể nhận trợ cấp hưu để thay thế cho thu nhập khi còn đang làm việc dựa vào sự đóng góp của chính họ trước đây chứ không phụ thuộc sự đóng góp của những người đang tham gia bảo hiểm hiện tại như trong hệ thống PAYG. Thứ hai, bằng cách đầu tư đầy đủ hoặc ít nhất một phần, quĩ bảo hiểm luôn có thể đảm bảo khả năng chi trả cho các trách nhiệm trong dài hạn, tránh được các áp lực tài chính có thể có do mức chi trợ cấp hưu tăng lên theo thời gian phát triển của chương trình. Ngoài ra, cơ chế tài chính có đầu tư áp dụng cho chương trình bảo hiểm hưu còn góp phần tạo điều kiện để thúc đẩy thị trường tài chính phát triển cũng như có thể làm tăng tỷ lệ lãi suất tiết kiệm. Tuy nhiên, nhược điểm của cơ chế này là tính toán cân đối quĩ phức tạp; độ chính xác không cao vì quĩ được cân đối dựa vào các giả định (dự báo) chỉ tiêu kinh tế xã hội dài hạn. Nếu một chỉ tiêu bị biến đổi khác dự báo thì sẽ lệch kết quả cân đối.

Các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến việc lựa chọn cơ chế tài chính bảo hiểm hưu

Khi xem xét lựa chọn cơ chế tài chính thích hợp cho hệ thống BHXH, cần quan tâm đến một số nhân tố cơ bản như:
(1)    Diện bảo vệ của BHXH.
Diện bảo vệ của BHXH có thể hiểu là phần dân số được hệ thống BHXH bảo vệ. Chúng ta biết rằng, tổng chi tiêu và ảnh hưởng của chi tiêu trong một hệ thống BHXH phụ thuộc vào cơ cấu trợ cấp và đặc điểm của những người được bảo hiểm của hệ thống. Lúc này, vấn đề cần xem xét là diện bảo vệ chỉ bao gồm những người lao động hưởng lương hay toàn bộ những người lao động; thu nhập và mức sống thay đổi như thế nào; và các đặc điểm dân số khác.
(2)    Các nguyên tắc xác định phí BHXH.
Cơ chế tài chính của hệ thống BHXH được lựa chọn phải đảm bảo sự cân đối hài hoà các nguyên tắc xác định phí BHXH. Chẳng hạn, cơ chế tài chính không chỉ chú ý đế sự cần thiết phải duy trì một tỷ lệ phí BHXH tương đối ổn định mà còn phải cân nhắc tới sự cần thiết phải thiết lập được các tỷ lệ phí BHXH sao cho không trở thành gánh nặng đối với cả người sử dụng lao động và người lao động.    
(3)    Môi trường đầu tư
Nhân tố này thường được quan tâm để xác định lựa chọn có nên áp dụng cơ chế tài chính có đầu tư hay không. Nhìn chung, cơ chế tài chính có đầu tư thường chỉ được lựa chọn khi các yếu tố kinh tế quan trọng có liên quan chặt chẽ đến hoạt động đầu tư đã được giải quyết như tự do hoá nền kinh tế; tốc độ và mức độ tư nhân hoá; hạ tầng cơ sở của hệ thống tài chính,… 

Cơ chế tài chính PAY hay cơ chế tài chính có đầu tư

Hệ thống PAYG được áp dụng một cách có truyền thống trên thế giới. Tuy nhiên, xu hướng hiện nay cho thấy nhiều nước chuyển đổi từ cơ chế tài chính này sang cách quản lý tài chính tiên tiến hơn. Đó là cơ chế tài chính có đầu tư.  Lý do chuyển đổi trước tiên có thể nhận thấy là hệ thống bảo hiểm hưu vận hành theo cơ chế PAYG đang đi vào giai đoạn già hóa và già hóa hoàn toàn. Mặt khác, ở nhiều nước trên thế giới, khi thế hệ trẻ em bùng nổ sau chiến tranh thế giới bắt đầu già và bước vào tuổi về hưu, “đội quân” tham gia đóng góp bảo hiểm ngày càng ít đi sẽ phải cáng đáng cho số lượngngười về hưu ngày càng nhiều hơn. Dân số đang già đi tạo áp lực không thể tránh khỏi cho chương trình bảo hiểm hưu áp dụng cơ chế tài chính PAYG, không có đầu tư. Trong các nước thuộc nhóm G5 (Mỹ, Nhật bản, Đức, Anh, Pháp) thì tỷ lệ phụ thuộc ước tính tăng gấp đôi vào năm 2040 so với năm 1990. Nếu tỷ lệ phục thuộc ở Đức là 22% vào năm 1990 thì đến 2040 tỷ lệ này khoản 48%.
Tuy nhiên, cơ chế PAYG có thể sẽ không phải chịu các áp lực và khắc phục được tình trạng “bị lão hóa” nếu như tốc độ tăng dân số hàng năm vẫn đảm bảo cho tổng thu đóng góp cân bằng với tổng chi trợ cấp hưu đang tăng lên. Nhưng thực tế, tốc độ tăng dân số nhìn chung có xu hướng giảm xuống, nhất là các nước đã phát triển.
Trong khi đó, các ưu điểm của cơ chế tài chính có đầu tư khiến cho nhiều nước đã xem xét cân nhắc và lựa chọn. Tuy nhiên, áp dụng hoàn toàn cơ chế tài chính mới, hay áp dụng kết hợp, hay vẫn duy trì cơ chế tài chính cũ lại cần phải xem xét các điều kiện và cơ cấu kinh tế xã hội của đất nước. Ở Chi Lê, Nhà nước thực hiện cải cách hưu từ năm 1982, trong đó cơ chế tài chính PAYG được áp dụng trước đó đã được thay bằng cơ chế tài chính có đầu tư. Mặc dù, chuyển sang cơ chế tài chính có đầu tư là hợp lý và là xu hướng hiện nay nhưng nếu chưa thực sự có môi trường đầu tư thuận lợi, hệ thống ngân hàng tài chính còn yếu kém, dân số vẫn tăng lên một cách đáng kể thì việc duy trì cơ chế tài chính PAYG vẫn là hợp lý.

Ngụ ý cho Việt nam

Hệ thống bảo hiểm xã hội Việt Namthực hiện trợ cấp hưu cũng theo cơ chế tài chính PAYG ngay từ những ngày đầu thành lập (1962). Ban đầu chỉ có sự đóng góp của các cơ quan, doanh nghiệp theotỷ lệ 4,7% so với quĩ lương đơn vị, không có phần đóng góp của người lao động. Giai đoạn 1962-1980 có thể coi là giai đoạn thanh niên của hệ thống tài chính PAYG ở Việt nam. Từ những năm 1980 đến nay, BHXH Việt Nam đã có nhiều sửa đổi bổ sung: Năm 1987, mức đóng của người sử dụng lao động tăng lên đến 13%; Năm 1995 cải cách BHXH Việt nam xác định lại đóng góp của cả người lao động và người sử dụng lao động, trong đó: người sử dụng lao động đóng 15% và người lao động đóng 5%. Tỷ lệ thay thế (tỷ lệ hưởng) nhìn chungchưa có gì thay đổi. Có thể nói, đây là những dấu hiệu cho thấy hệ thống tài chính của BHXH Việt Namđang bước vào giai đoạn già hoá. Theodự báo của các chuyên gia thì trong tương lai không xa quỹ hưu của BHXH Việt nam sẽ có dự phòng bẳng 0. Mặc dù vậy, cơ chế tài chính PAYG đang áp dụng hiện nay vẫn được coi là hợp lý. Bởi vì, việc thực sự chuyển đổi sang cơ chế tài chính mới đòi hỏi Việt nam phải giải quyết được một số vấn đề kinh tế quan trọng liên quan chặt chẽ đến hoạt động của cơ chế có đầu tư. Các vấn đề này có thể là: tự do hóa nền kinh tế, tăng tốc độ và mức độ tư nhân hóa, tăng cường hạ tầng cơ sở của hệ thống tài chính. Nếu như chưa có một nền tảng, môi trường tốt cho việc thực hiện quản lý tài chính theocơ chế đầu tư mà đã vội chuyển sang hệ thống này thì không những gây ra hiệu quả ngược về kinh tế mà còn có thể tạo ra mầm mống khủng hoảng chính trị.

Tài liệu tham khảo

1.     Bộ LĐ-TB-XH,1999, Tài liệu tập huấn Tài chính BHXH, Hà nội
2.     ILO, 1997, Social Security Financing, ISBN 92-2-110736-1
3.     ILO, 1998, Report the the Government on social protection development and training – Actuarial valuation of the Viet NamSocial Security SchemeGeneva(ILO/TF/Viet Nam/R.24).
4.     John Woodall (ILO), 1996, Tài chính BHXH, Tài liệu hội thảo do MOLISA tổ chức năm 1996
5.     World Bank, 1994, Averting the old age crisis – Policies for protect the old and promote growth, the World Bank, Oxford University Press, WashingtonD.C.






[1] Đã đăng trên tạp chí Kinh tế và Phát triển, số tháng 10/2006
[2] Tỷ lệ phụ thuộc đo lường mức độ phụ thuộc của những người nhận trợ cấp hưu vào những người đang làm việc tham gia đóng bảo hiểm. Nếu tỷ lệ phụ thuộc càng lớn, thì gánh nặng trách nhiệm đè lên vai của những người đang đóng góp bảo hiểm càng lớn, dẫn đến mức đóng góp càng cao.
[3] Tỷ lệ thay thế (còn gọi là tỷ lệ hưởng) đo lường khả năng thay thế thu nhập của trợ cấp hưu khi một người đủ điều kiện để hưởng trợ cấp. 

Popular Posts

Like us on Facebook

Flickr Images