Các cơ chế tài chính cho bảo hiểm hưu

05:32


Ths. Tôn Thị Thanh Huyền
Khoa Bảo hiểm- Trường Đại học Kinh tế quốc dân
10/2006[1]

Trong một xã hội ngày càng phát triển, bảo hiểm hưu càng trở nên quan trọng và là mối quan tâm của mỗi người ngay từ khi họ đang còn có khả năng lao động tạo thu nhập đảm bảo cho cuộc sống của mình. Có thể nói, tầm quan trọng của bảo hiểm hưu đã thể hiện ngay trong các cuộc bàn luận tại các nước và ở các hội nghị quốc tế. Bởi vì, đề tài chính trong hầu hết các cuộc bàn luận đều xoay quanh bảo hiểm hưu như mức trợ cấp, tuổi nghỉ hưu,… và một trong những vần đề được nhắc đến nhiều nhất là tính hiệu quả và khả năng tồn tại của các chương trình bảo hiểm hưu. Bài viết này đề cập đến các cơ chế tài chính mà các chương trình bảo hiểm hưu trên thế giới đã áp dụng, đồng thời đưa ra các nhân tố cơ bản cần xem xét khi lựa chọn một cơ chế tài chính thích hợp cho chương trình bảo hiểm hưu của một nước. Cuối cùng, bài viết đưa ra một số ý kiến liên quan đến cơ chế tài chính thích hợp cho bảo hiểm hưu trong hoạt động BHXH ở Việt nam hiện nay.

Bảo hiểm hưu và đặc điểm tài chính bảo hiểm hưu

Xét từ ý nghĩa xã hội, bảo hiểm hưu là biện pháp nhằm thay thế một phần hoặc toàn bộ thu nhập để đảm bảo cho một cá nhân có được mức sống ổn định khi không còn có thu nhập từ lao động vì một lý do nào đó như tuổi già, bị tàn tật, hoặc khi cuộc sống không có đủ nguồn lực do không còn người nuôi dưỡng. Còn nếu xem xét từ đặc điểm thanh toán, bảo hiểm hưu là chương trình bảo hiểm nhằm cung cấp các khoản trợ cấp về cơ bản mang tính định kỳ và dài hạn cho các cá nhân trong các trường hợp tuổi già, tàn tật hoặc mất người nuôi dưỡng – với tên gọi chung bằng tiếng Anh là “pensions”. Như vậy, từ cả hai góc độ chúng ta thấy, bảo hiểm hưu phải bao gồm trợ cấp hưu tuổi già, trợ cấp hưu tàn tật và trợ cấp hưu cho người còn sống (chế độ tử tuất). Đây là cách tiếp cận chung của nhiều nước cũng như của Tổ chức Lao động quốc tế. Tuy nhiên, thực tế ở nước ta hiện nay, việc hiểu thế nào là bảo hiểm hưu lại thường bị giới hạn chỉ ở bảo hiểm hưu tuổi già. Điều này cũng dễ hiểu vì trong ba trợ cấp hưu nói trên thì trợ cấp hưu tuổi già có thể coi là cốt yếu nhất, không chỉ riêng Việt Nam mà còn với nhiều nước khác trên thế giới. Chẳng hạn, Bảng số liệu 1 cho thấy ở Việt Nam, số lượng người được hưởng cũng như mức chi trợ cấp hưu tuổi già chiếm tỷ trọng lớn nhất.
Bảng 1: Số người hưởng hưu và mức chi trợ cấp hưu ở Việt Nam.

1997
2000
2010
2020
2030
Số người được hưởng (nghìn người)
1 793
2 411
1 739
1 808
1 867
- Hưu tuổi già
1 199
1730
1 142
1 204
1 344
- Hưu tàn tật
404
454
332
240
142
- Hưu tử tuất
190
227
265
364
381
Mức chi trợ cấp (tỷ đồng)
5 077
12 807
14 703
27 271
52 071
- Hưu tuổi già
4 185
10 906
12 305
23 839
47 814
- Hưu tàn tật
787
1 606
1 825
2 125
2 019
- Hưu tử tuất
132
295
573
1 307
2 238
·  Số liệu bao gồm đối tượng hưởng trước 1995 và sau 1995
·  Các số liệu của năm 2010, 2020 và 2030 là số liệu dự báo từ năm 1998.
Nguồn:
- Tổng hợp từ bảng số liệu dự báo trong Báo cáo số 24 của ILO năm 1998 về đánh giá tài chính BHXH Việt Nam (ILO/TF/Viet Nam/R.24).
- BHXH Việt Nam 2001

Đặc điểm tài chính bảo hiểm hưu gắn liền với quá trình hình thành quĩ và đặc điểm thanh toán trợ cấp hưu. Trong bảo hiểm hưu, các khoản đóng góp của người tham gia được tập trung vào quĩ và sau một thời gian dài (tổi thiểu thường là 20 năm) mới được sử dụng để chi trả. Như đã đề cập, các khoản trợ cấp hưu lại mang tính định kỳ và dài hạn. Chính vì vậy, bảo hiểm hưu còn được gọi là bảo hiểm dài hạn, và nhìn chung có xu hướng chi tiêu trong tương lai khác các bảo hiểm ngắn hạn:
·        So với thời gian khi bắt đầu thực hiện chương trình, mức chi bảo hiểm hưu ngày càng tăng lên trong nhiều năm sau đó;
·        Các trợ cấp hưu tăng lên cùng với thời gian đóng góp (hoặc thâm niên công tác) của người được bảo hiểm;
·        Khoảng thời gian chi trả trợ cấp hưu trong tương lai có xu hướng dài hơn vì tuổi thọ người dân ngày càng tăng lên. Do vậy, mức chi trợ cấp hưu sẽ ngày càng nhiều hơn.
·        Các trợ cấp hưu thường được điều chỉnh khi mức lương tăng hoặc mức sống tăng.
Các đặc điểm này khiến cho các chương trình bảo hiểm hưu luôn phải đối mặt với các vấn đề phức tạp liên quan đến việc đảm bảo mức trợ cấp hưu thỏa đáng, phù hợp với nhu cầu ngày càng cao của người dân, nhưng đồng thời  cũng phải đảm bảo cho sự tồn tại bền vững cho các chương trình hưu.

Cơ chế tài chính cho bảo hiểm hưu

Cơ chế tài chính của một chương trình bảo hiểm là phương thức bảo đảm cân đối tài chính giữa các khoản thu và các khoản chi của chương trình đó. Nói cách khác, mỗi cơ chế tài chính thể hiện một phương pháp xác định mức đóng góp sao cho đảm bảo chi trả các trợ cấp bảo hiểm khi đến hạn theo nguyên tắc cân đối thu chi. Nhìn chung, cơ chế tài chính áp dụng cho chương trình bảo hiểm hưu cụ thể của một nước thường được qui định trong luật. Các qui định này sẽ đảm bảo sao cho việc áp dụng cơ chế tài chính vừa đủ tính năng động nhưng lại vừa có cơ sở chắc chắn.
Có thể có nhiều cơ chế tài chính cho một chương trình bảo hiểm. Đối với bảo hiểm hưu có đặc điểm là dài hạn, bài viết này giới thiệu một số cơ chế tài chính phổ biến.

Cơ chế tài chính PAYG

Cơ chế tài chính PAYG đã được áp dụng cho bảo hiểm hưu dài hạn ở khá nhiều nước trên thế giới, kể cả những nước công nghiệp phát triển và những nước đang phát triển. Thường gặp nhất là trong các chương trình trợ cấp hưu BHXH của nhà nước. Về nguyên tắc, PAYG là cơ chế tài chính thu đến đâu chi đến đấy (còn gọi là chi theo mức thu) hoặc thu theo nhu cầu chi (còn gọi là thu theo mức chi). Trong chương trình bảo hiểm hưu áp dụng cơ chế PAYG, các khoản đóng góp của những người hiện tại đang tham gia bảo hiểm sẽ được sử dụng để chi trả trợ cấp cho những người đang được hưởng hiện tại. Rõ ràng là với cách cân đối tài chính như thế, cơ chế tài chính này không thực hiện đầu tư tích luỹ để tài trợ cho các khoản chi trợ cấp. Vì vậy, cơ chế tài chính PAYG còn được gọi là cơ chế tài chính không có đầu tư hay cơ chế tài chính không có tài trợ.
Thực tế các nước cho thấy, hệ thống tài chính BHXH theocơ chế PAYG không có các khoản tích luỹ cho giai đoạn sau thường có chu kỳ phát triển trải qua 3 giai đoạn:
(1) Giai đoạn “thanh niên”kéo dài khoảng 20 năm đầu sau khi áp dụng cơ chế. Giai đoạn này chưa có nhiều người về hưu nên tỷ lệ phụ thuộc[2]thấp, mức đóng góp bảo hiểm do vậy có thể chỉ mới ở mức thấp.
(2) Giai đoạn già hoá là giai đoạn trong vòng 20 năm đến 50 năm tiếp theo. Ở giai đoạn này, số người nhận trợ cấp hưu bắt đầu tăng lên, dẫn đến tỷ lệ phụ thuộc tăng dần. Do đó, để đảm bảo cân đối tài chính trong dài hạn, sẽ phải xem xét hoặc tăng mức đóng góp bảo hiểm, hoặc giảm tỷ lệ thay thế [3]. Trên thực tế, việc tăng mức đóng góp dường như dễ dàng hơn so với việc giảm tỷ lệ thay thế.
(3) Giai đoạn già hoá hoàn toàn thường bắt đầu khi cơ chế tài chính PAYG hoạt động được trên 50 năm. Tỷ lệ phụ thuộc trong giai đoạn này tăng lên khá cao đòi hỏi phải tăng mức đóng góp bảo hiểm lên vì mức trợ cấp hưu lúc này không thể giảm xuống quá thấp, ảnh hưởng đến mức sống của người được hưởng.
Cơ chế tài chính PAYG có khá nhiều ưu điểm như: Tính toán đơn giản; độ chính xác cao; gắn liền với kế hoạch ngân sách hàng năm; quyền lợi của người được bảo hiểm được bảo vệ kịp thời của Nhà nước. Tuy nhiên, các đặc điểm của cơ chế tài chính này cũng bộc lộ những nhược điểm lớn ảnh hưởng đến quyền lợi của người được bảo hiểm và người được thụ hưởng cũng như sự tồn tại của hệ thống. Trong cơ chế PAYG không có tích luỹ, tại một thời điểm nhất định sẽ luôn có một khoản nợ gọi là “nợ lương hưu tiền ẩn”, đó chính là giá trị hiện tại của các khoản thanh toán trong tương lai. Với thực tế mức sống và tuổi thọ người dân ngày càng cao, dân số già hoá nhanh sẽ làm cho khoản nợ càng ngày càng trở thành gánh nặng cho thế hệ những người tham gia đóng góp hiện tại và tương lai. Cụ thể, chương trình bao rhiểm hưu theo cơ chế PAYG đang bước vào giai đoạn già hoá hoàn toàn, mức đóng góp bảo hiểm sẽ phải xem xét lại và nâng lên. Tuy nhiên, nếu tăng tỷ lệ phí BHXH dài hạn cao hơn nữa thì sẽ có những tác động xấu đến tâm lý của người tham gia đóng góp bảo hiểm. Do đó, việc thực hiện đóng góp có thể sẽ không hiệu quả. Mặt khác, nhu cầu về lao động sẽ giảm, từ đó ảnh hưởng tiêu cực đến vấn đề tạo việc làm trong nền kinh tế cũng như các hoạt động kinh tế có thể bị suy giảm, ảnh hưởng cả về mặt kinh tế và xã hội.

Cơ chế tài chính có đầu tư

Trong cơ chế tài chính có đầu tư, các khoản đóng góp của người tham gia bảo hiểm được tích luỹ lại và đầu tư theo nhiều cách: gửi Ngân hàng, mua trái phiếu, cổ phiếu, kinh doanh bất động sản... để thu lãi. Sau đó, khoản tiền đã đóng góp tích lũy được cùng với phần thu nhập từ đầu tư được phân bổ lại cho người thụ hưởng khi họ đáp ứng đủ điều kiện qui định. Cơ chế tài chính này thực hiện cân đối tổng nguồn thu vào quĩ và tổng số chi ra từ quĩ trong một thời hạn dài, chẳng hạn 20, 30, 40…. năm.
Cơ chế tài chính có đầu tư có khá nhiều ưu điểm. Thứ nhất, mối quan hệ giữa mức đóng và mức trợ cấp được thể hiện một cách rõ ràng, chặt chẽ. Một người có thể nhận trợ cấp hưu để thay thế cho thu nhập khi còn đang làm việc dựa vào sự đóng góp của chính họ trước đây chứ không phụ thuộc sự đóng góp của những người đang tham gia bảo hiểm hiện tại như trong hệ thống PAYG. Thứ hai, bằng cách đầu tư đầy đủ hoặc ít nhất một phần, quĩ bảo hiểm luôn có thể đảm bảo khả năng chi trả cho các trách nhiệm trong dài hạn, tránh được các áp lực tài chính có thể có do mức chi trợ cấp hưu tăng lên theo thời gian phát triển của chương trình. Ngoài ra, cơ chế tài chính có đầu tư áp dụng cho chương trình bảo hiểm hưu còn góp phần tạo điều kiện để thúc đẩy thị trường tài chính phát triển cũng như có thể làm tăng tỷ lệ lãi suất tiết kiệm. Tuy nhiên, nhược điểm của cơ chế này là tính toán cân đối quĩ phức tạp; độ chính xác không cao vì quĩ được cân đối dựa vào các giả định (dự báo) chỉ tiêu kinh tế xã hội dài hạn. Nếu một chỉ tiêu bị biến đổi khác dự báo thì sẽ lệch kết quả cân đối.

Các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến việc lựa chọn cơ chế tài chính bảo hiểm hưu

Khi xem xét lựa chọn cơ chế tài chính thích hợp cho hệ thống BHXH, cần quan tâm đến một số nhân tố cơ bản như:
(1)    Diện bảo vệ của BHXH.
Diện bảo vệ của BHXH có thể hiểu là phần dân số được hệ thống BHXH bảo vệ. Chúng ta biết rằng, tổng chi tiêu và ảnh hưởng của chi tiêu trong một hệ thống BHXH phụ thuộc vào cơ cấu trợ cấp và đặc điểm của những người được bảo hiểm của hệ thống. Lúc này, vấn đề cần xem xét là diện bảo vệ chỉ bao gồm những người lao động hưởng lương hay toàn bộ những người lao động; thu nhập và mức sống thay đổi như thế nào; và các đặc điểm dân số khác.
(2)    Các nguyên tắc xác định phí BHXH.
Cơ chế tài chính của hệ thống BHXH được lựa chọn phải đảm bảo sự cân đối hài hoà các nguyên tắc xác định phí BHXH. Chẳng hạn, cơ chế tài chính không chỉ chú ý đế sự cần thiết phải duy trì một tỷ lệ phí BHXH tương đối ổn định mà còn phải cân nhắc tới sự cần thiết phải thiết lập được các tỷ lệ phí BHXH sao cho không trở thành gánh nặng đối với cả người sử dụng lao động và người lao động.    
(3)    Môi trường đầu tư
Nhân tố này thường được quan tâm để xác định lựa chọn có nên áp dụng cơ chế tài chính có đầu tư hay không. Nhìn chung, cơ chế tài chính có đầu tư thường chỉ được lựa chọn khi các yếu tố kinh tế quan trọng có liên quan chặt chẽ đến hoạt động đầu tư đã được giải quyết như tự do hoá nền kinh tế; tốc độ và mức độ tư nhân hoá; hạ tầng cơ sở của hệ thống tài chính,… 

Cơ chế tài chính PAY hay cơ chế tài chính có đầu tư

Hệ thống PAYG được áp dụng một cách có truyền thống trên thế giới. Tuy nhiên, xu hướng hiện nay cho thấy nhiều nước chuyển đổi từ cơ chế tài chính này sang cách quản lý tài chính tiên tiến hơn. Đó là cơ chế tài chính có đầu tư.  Lý do chuyển đổi trước tiên có thể nhận thấy là hệ thống bảo hiểm hưu vận hành theo cơ chế PAYG đang đi vào giai đoạn già hóa và già hóa hoàn toàn. Mặt khác, ở nhiều nước trên thế giới, khi thế hệ trẻ em bùng nổ sau chiến tranh thế giới bắt đầu già và bước vào tuổi về hưu, “đội quân” tham gia đóng góp bảo hiểm ngày càng ít đi sẽ phải cáng đáng cho số lượngngười về hưu ngày càng nhiều hơn. Dân số đang già đi tạo áp lực không thể tránh khỏi cho chương trình bảo hiểm hưu áp dụng cơ chế tài chính PAYG, không có đầu tư. Trong các nước thuộc nhóm G5 (Mỹ, Nhật bản, Đức, Anh, Pháp) thì tỷ lệ phụ thuộc ước tính tăng gấp đôi vào năm 2040 so với năm 1990. Nếu tỷ lệ phục thuộc ở Đức là 22% vào năm 1990 thì đến 2040 tỷ lệ này khoản 48%.
Tuy nhiên, cơ chế PAYG có thể sẽ không phải chịu các áp lực và khắc phục được tình trạng “bị lão hóa” nếu như tốc độ tăng dân số hàng năm vẫn đảm bảo cho tổng thu đóng góp cân bằng với tổng chi trợ cấp hưu đang tăng lên. Nhưng thực tế, tốc độ tăng dân số nhìn chung có xu hướng giảm xuống, nhất là các nước đã phát triển.
Trong khi đó, các ưu điểm của cơ chế tài chính có đầu tư khiến cho nhiều nước đã xem xét cân nhắc và lựa chọn. Tuy nhiên, áp dụng hoàn toàn cơ chế tài chính mới, hay áp dụng kết hợp, hay vẫn duy trì cơ chế tài chính cũ lại cần phải xem xét các điều kiện và cơ cấu kinh tế xã hội của đất nước. Ở Chi Lê, Nhà nước thực hiện cải cách hưu từ năm 1982, trong đó cơ chế tài chính PAYG được áp dụng trước đó đã được thay bằng cơ chế tài chính có đầu tư. Mặc dù, chuyển sang cơ chế tài chính có đầu tư là hợp lý và là xu hướng hiện nay nhưng nếu chưa thực sự có môi trường đầu tư thuận lợi, hệ thống ngân hàng tài chính còn yếu kém, dân số vẫn tăng lên một cách đáng kể thì việc duy trì cơ chế tài chính PAYG vẫn là hợp lý.

Ngụ ý cho Việt nam

Hệ thống bảo hiểm xã hội Việt Namthực hiện trợ cấp hưu cũng theo cơ chế tài chính PAYG ngay từ những ngày đầu thành lập (1962). Ban đầu chỉ có sự đóng góp của các cơ quan, doanh nghiệp theotỷ lệ 4,7% so với quĩ lương đơn vị, không có phần đóng góp của người lao động. Giai đoạn 1962-1980 có thể coi là giai đoạn thanh niên của hệ thống tài chính PAYG ở Việt nam. Từ những năm 1980 đến nay, BHXH Việt Nam đã có nhiều sửa đổi bổ sung: Năm 1987, mức đóng của người sử dụng lao động tăng lên đến 13%; Năm 1995 cải cách BHXH Việt nam xác định lại đóng góp của cả người lao động và người sử dụng lao động, trong đó: người sử dụng lao động đóng 15% và người lao động đóng 5%. Tỷ lệ thay thế (tỷ lệ hưởng) nhìn chungchưa có gì thay đổi. Có thể nói, đây là những dấu hiệu cho thấy hệ thống tài chính của BHXH Việt Namđang bước vào giai đoạn già hoá. Theodự báo của các chuyên gia thì trong tương lai không xa quỹ hưu của BHXH Việt nam sẽ có dự phòng bẳng 0. Mặc dù vậy, cơ chế tài chính PAYG đang áp dụng hiện nay vẫn được coi là hợp lý. Bởi vì, việc thực sự chuyển đổi sang cơ chế tài chính mới đòi hỏi Việt nam phải giải quyết được một số vấn đề kinh tế quan trọng liên quan chặt chẽ đến hoạt động của cơ chế có đầu tư. Các vấn đề này có thể là: tự do hóa nền kinh tế, tăng tốc độ và mức độ tư nhân hóa, tăng cường hạ tầng cơ sở của hệ thống tài chính. Nếu như chưa có một nền tảng, môi trường tốt cho việc thực hiện quản lý tài chính theocơ chế đầu tư mà đã vội chuyển sang hệ thống này thì không những gây ra hiệu quả ngược về kinh tế mà còn có thể tạo ra mầm mống khủng hoảng chính trị.

Tài liệu tham khảo

1.     Bộ LĐ-TB-XH,1999, Tài liệu tập huấn Tài chính BHXH, Hà nội
2.     ILO, 1997, Social Security Financing, ISBN 92-2-110736-1
3.     ILO, 1998, Report the the Government on social protection development and training – Actuarial valuation of the Viet NamSocial Security SchemeGeneva(ILO/TF/Viet Nam/R.24).
4.     John Woodall (ILO), 1996, Tài chính BHXH, Tài liệu hội thảo do MOLISA tổ chức năm 1996
5.     World Bank, 1994, Averting the old age crisis – Policies for protect the old and promote growth, the World Bank, Oxford University Press, WashingtonD.C.






[1] Đã đăng trên tạp chí Kinh tế và Phát triển, số tháng 10/2006
[2] Tỷ lệ phụ thuộc đo lường mức độ phụ thuộc của những người nhận trợ cấp hưu vào những người đang làm việc tham gia đóng bảo hiểm. Nếu tỷ lệ phụ thuộc càng lớn, thì gánh nặng trách nhiệm đè lên vai của những người đang đóng góp bảo hiểm càng lớn, dẫn đến mức đóng góp càng cao.
[3] Tỷ lệ thay thế (còn gọi là tỷ lệ hưởng) đo lường khả năng thay thế thu nhập của trợ cấp hưu khi một người đủ điều kiện để hưởng trợ cấp. 

You Might Also Like

0 nhận xét

Popular Posts

Like us on Facebook

Flickr Images