Các cơ chế tài chính cho bảo hiểm hưu
05:32
Trong một
xã hội ngày càng phát triển, bảo hiểm hưu càng trở nên quan trọng và là mối quan
tâm của mỗi người ngay từ khi họ đang còn có khả năng lao động tạo thu nhập đảm
bảo cho cuộc sống của mình. Có thể nói, tầm quan trọng của bảo hiểm hưu đã thể
hiện ngay trong các cuộc bàn luận tại các nước và ở các hội nghị quốc tế. Bởi
vì, đề tài chính trong hầu hết các cuộc bàn luận đều xoay quanh bảo hiểm hưu như
mức trợ cấp, tuổi nghỉ hưu,… và một trong những vần đề được nhắc đến nhiều nhất
là tính hiệu quả và khả năng tồn tại của các chương trình bảo hiểm hưu. Bài viết
này đề cập đến các cơ chế tài chính mà các chương trình bảo hiểm hưu trên thế
giới đã áp dụng, đồng thời đưa ra các nhân tố cơ bản cần xem xét khi lựa chọn
một cơ chế tài chính thích hợp cho chương trình bảo hiểm hưu của một nước. Cuối
cùng, bài viết đưa ra một số ý kiến liên quan đến cơ chế tài chính thích hợp cho
bảo hiểm hưu trong hoạt động BHXH ở Việt nam hiện
nay.
Bảo hiểm hưu và đặc điểm tài chính bảo hiểm hưu
Xét từ ý
nghĩa xã hội, bảo hiểm hưu là biện pháp nhằm thay thế một phần hoặc toàn bộ thu
nhập để đảm bảo cho một cá nhân có được mức sống ổn định khi không còn có thu
nhập từ lao động vì một lý do nào đó như tuổi già, bị tàn tật, hoặc khi cuộc
sống không có đủ nguồn lực do không còn người nuôi dưỡng. Còn nếu xem xét từ đặc
điểm thanh toán, bảo hiểm hưu là chương trình bảo hiểm nhằm cung cấp các khoản
trợ cấp về cơ bản mang tính định
kỳ và dài hạn cho
các cá nhân trong các trường hợp tuổi già, tàn tật hoặc mất người nuôi dưỡng –
với tên gọi chung bằng tiếng Anh là “pensions”. Như vậy, từ cả hai góc độ
chúng ta thấy, bảo hiểm hưu phải bao gồm trợ cấp hưu tuổi già, trợ cấp hưu tàn
tật và trợ cấp hưu cho người còn sống (chế độ tử tuất). Đây là cách tiếp
cận chung của
nhiều nước cũng như của Tổ chức Lao động quốc tế. Tuy nhiên, thực tế ở nước ta
hiện nay, việc hiểu thế nào là bảo hiểm hưu lại thường bị giới hạn chỉ ở bảo
hiểm hưu tuổi già. Điều này cũng dễ hiểu vì trong ba trợ cấp hưu nói trên thì
trợ cấp hưu tuổi già có thể coi là cốt yếu nhất, không chỉ riêng
Việt Nam mà
còn với nhiều nước khác trên thế giới. Chẳng hạn, Bảng số liệu 1 cho thấy ở Việt
Nam, số lượng người được hưởng cũng như mức chi trợ cấp hưu tuổi già chiếm tỷ
trọng lớn
nhất.
Bảng 1: Số
người hưởng hưu và mức chi trợ cấp hưu ở
Việt Nam .
|
|
1997
|
2000
|
2010
|
2020
|
2030
|
|
Số
người được hưởng (nghìn
người)
|
1
793
|
2
411
|
1
739
|
1
808
|
1
867
|
|
-
Hưu tuổi
già
|
1
199
|
1730
|
1
142
|
1
204
|
1
344
|
|
-
Hưu tàn
tật
|
404
|
454
|
332
|
240
|
142
|
|
-
Hưu tử
tuất
|
190
|
227
|
265
|
364
|
381
|
|
Mức
chi trợ cấp (tỷ
đồng)
|
5
077
|
12
807
|
14
703
|
27
271
|
52
071
|
|
-
Hưu tuổi
già
|
4
185
|
10
906
|
12
305
|
23
839
|
47
814
|
|
-
Hưu tàn
tật
|
787
|
1
606
|
1
825
|
2
125
|
2
019
|
|
-
Hưu tử
tuất
|
132
|
295
|
573
|
1
307
|
2
238
|
|
· Số
liệu bao gồm đối tượng hưởng trước 1995 và sau
1995
· Các
số liệu của năm 2010, 2020 và 2030 là số liệu dự báo từ năm
1998.
Nguồn:
-
Tổng hợp từ bảng số liệu dự báo trong Báo cáo số 24 của ILO năm 1998 về đánh giá
tài chính BHXH Việt Nam (ILO/TF/Viet
Nam/R.24).
-
BHXH Việt Nam 2001
| |||||
Đặc điểm
tài chính bảo hiểm hưu gắn liền với quá trình hình thành quĩ và đặc điểm thanh
toán trợ cấp hưu. Trong bảo hiểm hưu, các khoản đóng góp của người tham gia được
tập trung vào quĩ và sau một thời gian dài (tổi thiểu thường là 20 năm) mới được
sử dụng để chi trả. Như đã đề cập, các khoản trợ cấp hưu lại mang tính định kỳ
và dài hạn. Chính vì vậy, bảo hiểm hưu còn được gọi là bảo hiểm dài hạn, và
nhìn chung có
xu hướng chi tiêu trong tương lai khác các bảo hiểm ngắn
hạn:
· So với thời
gian khi bắt đầu thực hiện chương trình, mức chi bảo hiểm hưu ngày càng tăng lên
trong nhiều năm sau
đó;
· Các trợ cấp
hưu tăng lên cùng với thời gian đóng góp (hoặc thâm niên công tác) của người
được bảo
hiểm;
· Khoảng thời
gian chi trả trợ cấp hưu trong tương lai có xu hướng dài hơn vì tuổi thọ người
dân ngày càng tăng lên. Do vậy, mức chi trợ cấp hưu sẽ ngày càng nhiều
hơn.
· Các trợ cấp
hưu thường được điều chỉnh khi mức lương tăng hoặc mức sống
tăng.
Các đặc
điểm này khiến cho các chương trình bảo hiểm hưu luôn phải đối mặt với các vấn
đề phức tạp liên quan đến việc đảm bảo mức trợ cấp hưu thỏa đáng, phù hợp với
nhu cầu ngày càng cao của người dân, nhưng đồng thời cũng phải đảm bảo cho sự
tồn tại bền vững cho các chương trình
hưu.
Cơ chế tài chính cho bảo hiểm hưu
Cơ chế tài
chính của một chương trình bảo hiểm là phương thức bảo đảm cân đối tài chính
giữa các khoản thu và các khoản chi của chương trình đó. Nói cách khác, mỗi cơ
chế tài chính thể hiện một phương pháp xác định mức đóng góp sao cho đảm bảo chi
trả các trợ cấp bảo hiểm khi đến hạn theo nguyên tắc cân đối thu chi. Nhìn
chung, cơ chế tài chính áp dụng cho chương trình bảo hiểm hưu cụ thể của một
nước thường được qui định trong luật. Các qui định này sẽ đảm bảo sao cho việc
áp dụng cơ chế tài chính vừa đủ tính năng động nhưng lại vừa có cơ sở chắc
chắn.
Có thể có
nhiều cơ chế tài chính cho một chương trình bảo hiểm. Đối với bảo hiểm hưu có
đặc điểm là dài hạn, bài viết này giới thiệu một số cơ chế tài chính phổ
biến.
Cơ chế tài chính PAYG
Cơ chế tài
chính PAYG đã được áp dụng cho bảo hiểm hưu dài hạn ở khá nhiều nước trên thế
giới, kể cả những nước công nghiệp phát triển và những nước đang phát triển.
Thường gặp nhất là trong các chương trình trợ cấp hưu BHXH của nhà nước. Về
nguyên tắc, PAYG là cơ chế tài chính thu đến đâu chi đến đấy (còn gọi là
chi theo mức
thu) hoặc thu theo nhu
cầu chi (còn gọi là thu theo mức
chi). Trong chương trình bảo hiểm hưu áp dụng cơ chế PAYG, các khoản đóng góp
của những người hiện tại đang tham gia bảo hiểm sẽ được
sử dụng để chi trả trợ cấp cho những người đang được hưởng
hiện tại. Rõ ràng là với cách cân đối tài chính như thế, cơ chế tài chính này
không thực hiện đầu tư tích luỹ để tài trợ cho các khoản chi trợ cấp. Vì vậy, cơ
chế tài chính PAYG còn được gọi là cơ chế tài chính không có đầu tư hay cơ chế
tài chính không có tài
trợ.
Thực tế các
nước cho thấy, hệ thống tài chính
BHXH theo cơ chế
PAYG không có các khoản tích luỹ cho giai đoạn sau thường có chu kỳ phát triển
trải qua 3 giai
đoạn:
(1) Giai
đoạn “thanh niên”kéo dài
khoảng 20 năm đầu sau khi áp dụng cơ chế. Giai đoạn này chưa có nhiều người về
hưu nên tỷ lệ phụ thuộc[2]thấp,
mức đóng góp bảo hiểm do vậy có thể chỉ mới ở mức
thấp.
(2) Giai
đoạn già hoá là giai
đoạn trong vòng 20 năm đến 50 năm
tiếp theo . Ở giai
đoạn này, số người nhận trợ cấp hưu bắt đầu tăng lên, dẫn đến tỷ lệ phụ thuộc
tăng dần. Do đó, để đảm bảo cân đối tài chính trong dài hạn, sẽ phải xem xét
hoặc tăng mức đóng góp bảo hiểm, hoặc giảm tỷ lệ thay thế [3].
Trên thực tế, việc tăng mức đóng góp dường như dễ dàng hơn so với việc giảm tỷ
lệ thay
thế.
(3) Giai
đoạn già hoá hoàn toàn thường
bắt đầu khi
cơ chế tài chính PAYG hoạt động được trên 50 năm. Tỷ lệ phụ thuộc trong giai
đoạn này tăng lên khá cao đòi hỏi phải tăng mức đóng góp bảo hiểm lên vì mức trợ
cấp hưu lúc này không thể giảm xuống quá thấp, ảnh hưởng đến mức sống của người
được
hưởng.
Cơ chế tài
chính PAYG có khá nhiều ưu điểm như: Tính toán đơn giản; độ chính xác cao; gắn
liền với kế hoạch ngân sách hàng năm; quyền lợi của người được bảo hiểm được bảo
vệ kịp thời của Nhà nước. Tuy nhiên, các đặc điểm của cơ chế tài chính này cũng
bộc lộ những nhược điểm lớn ảnh hưởng đến quyền lợi của người được bảo hiểm và
người được thụ hưởng cũng như sự tồn tại của hệ thống. Trong cơ chế PAYG không
có tích luỹ, tại một thời điểm nhất định sẽ luôn có một khoản nợ gọi là “nợ
lương hưu tiền ẩn”, đó chính là giá trị hiện tại của các khoản thanh toán trong
tương lai. Với thực tế mức sống và tuổi thọ người dân ngày càng cao, dân số già
hoá nhanh sẽ làm cho khoản nợ càng ngày càng trở thành gánh nặng cho thế hệ
những người tham gia đóng góp hiện tại và tương lai. Cụ thể, chương trình bao
rhiểm hưu theo cơ
chế PAYG đang bước vào giai đoạn già hoá hoàn toàn, mức đóng góp bảo hiểm sẽ
phải xem xét lại và nâng lên. Tuy nhiên, nếu tăng tỷ lệ phí BHXH dài hạn cao hơn
nữa thì sẽ có những tác động xấu đến tâm lý của người tham gia đóng góp bảo
hiểm. Do đó, việc thực hiện đóng góp có thể sẽ không hiệu quả. Mặt khác, nhu cầu
về lao động sẽ giảm, từ đó ảnh hưởng tiêu cực đến vấn đề tạo việc làm trong nền
kinh tế cũng như các hoạt động kinh tế có thể bị suy giảm, ảnh hưởng cả về mặt
kinh tế và xã
hội.
Cơ chế tài chính có đầu tư
Trong cơ
chế tài chính có đầu tư, các khoản đóng góp của người tham gia bảo hiểm được
tích luỹ lại và đầu tư theo nhiều
cách: gửi Ngân hàng, mua trái phiếu, cổ phiếu, kinh doanh bất động sản... để thu
lãi. Sau đó, khoản tiền đã đóng góp tích lũy được cùng với phần thu nhập từ đầu
tư được phân bổ lại cho người thụ hưởng khi họ đáp ứng đủ điều kiện qui định. Cơ
chế tài chính này thực hiện cân đối tổng nguồn thu vào quĩ và tổng số chi ra từ
quĩ trong một thời hạn dài, chẳng hạn 20, 30, 40….
năm.
Cơ chế tài
chính có đầu tư có khá nhiều ưu điểm. Thứ nhất, mối quan hệ giữa mức đóng và mức
trợ cấp được thể hiện một cách rõ ràng, chặt chẽ. Một người có thể nhận trợ cấp
hưu để thay thế cho thu nhập khi còn đang làm việc dựa vào sự đóng góp của chính
họ trước đây chứ không phụ thuộc sự đóng góp của những người đang tham gia bảo
hiểm hiện tại như trong hệ thống PAYG. Thứ hai, bằng cách đầu tư đầy đủ hoặc ít
nhất một phần, quĩ bảo hiểm luôn có thể đảm bảo khả năng chi trả cho các trách
nhiệm trong dài hạn, tránh được các áp lực tài chính có thể có do mức chi trợ
cấp hưu tăng lên theo thời
gian phát triển của chương trình. Ngoài ra, cơ chế tài chính có đầu tư áp dụng
cho chương trình bảo hiểm hưu còn góp phần tạo điều kiện để thúc đẩy thị trường
tài chính phát triển cũng như có thể làm tăng tỷ lệ lãi suất tiết kiệm. Tuy
nhiên, nhược điểm của cơ chế này là tính toán cân đối quĩ phức tạp; độ chính xác
không cao vì quĩ được cân đối dựa vào các giả định (dự báo) chỉ tiêu kinh tế xã
hội dài hạn. Nếu một chỉ tiêu bị biến đổi khác dự báo thì sẽ lệch kết quả cân
đối.
Các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến việc lựa chọn cơ chế tài chính bảo hiểm hưu
Khi xem xét
lựa chọn cơ chế tài chính thích hợp cho hệ thống BHXH, cần quan tâm đến một số
nhân tố cơ bản
như:
(1) Diện bảo vệ
của
BHXH.
Diện bảo vệ
của BHXH có thể hiểu là phần dân số được hệ thống BHXH bảo vệ. Chúng ta biết
rằng, tổng chi tiêu và ảnh hưởng của chi tiêu trong một hệ thống BHXH phụ thuộc
vào cơ cấu trợ cấp và đặc điểm của những người được bảo hiểm của hệ thống. Lúc
này, vấn đề cần xem xét là diện bảo vệ chỉ bao gồm những người lao động hưởng
lương hay toàn bộ những người lao động; thu nhập và mức sống thay đổi như thế
nào; và các đặc điểm dân số
khác.
(2) Các nguyên
tắc xác định phí
BHXH.
Cơ chế tài
chính của hệ thống BHXH được lựa chọn phải đảm bảo sự cân đối hài hoà các nguyên
tắc xác định phí BHXH. Chẳng hạn, cơ chế tài chính không chỉ chú ý đế sự cần
thiết phải duy trì một tỷ lệ phí BHXH tương đối ổn định mà còn phải cân nhắc tới
sự cần thiết phải thiết lập được các tỷ lệ phí BHXH sao cho không trở thành gánh
nặng đối với cả người sử dụng lao động và người lao động.
(3) Môi trường
đầu
tư
Nhân tố này
thường được quan tâm để xác định lựa chọn có nên áp dụng cơ chế tài chính có đầu
tư hay không. Nhìn chung, cơ chế tài chính có đầu tư thường chỉ được lựa chọn
khi các yếu tố kinh tế quan trọng có liên quan chặt chẽ đến hoạt động đầu tư đã
được giải quyết như tự do hoá nền kinh tế; tốc độ và mức độ tư nhân hoá; hạ tầng
cơ sở của hệ thống tài
chính,…
Cơ chế tài chính PAY hay cơ chế tài chính có đầu tư
Hệ thống
PAYG được áp dụng một cách có truyền thống trên thế giới. Tuy nhiên, xu hướng
hiện nay cho thấy nhiều nước chuyển đổi từ cơ chế tài chính này sang cách quản
lý tài chính tiên tiến hơn. Đó là cơ chế tài chính có đầu tư. Lý do chuyển đổi
trước tiên có thể nhận thấy là hệ thống bảo hiểm hưu vận
hành theo cơ
chế PAYG đang đi vào giai đoạn già hóa và già hóa hoàn toàn. Mặt khác, ở nhiều
nước trên thế giới, khi thế hệ trẻ em bùng nổ sau chiến tranh thế giới bắt đầu
già và bước vào tuổi về hưu, “đội quân” tham gia đóng góp bảo hiểm ngày càng ít
đi sẽ phải cáng đáng cho số lượngngười về hưu ngày càng nhiều hơn. Dân số đang
già đi tạo áp lực không thể tránh khỏi cho chương trình bảo hiểm hưu áp dụng cơ
chế tài chính PAYG, không có đầu tư. Trong các nước thuộc nhóm G5 (Mỹ, Nhật bản,
Đức, Anh, Pháp) thì tỷ lệ phụ thuộc ước tính tăng gấp đôi vào năm 2040 so với
năm 1990. Nếu tỷ lệ phục thuộc ở Đức là 22% vào năm 1990 thì đến 2040 tỷ lệ này
khoản
48%.
Tuy nhiên,
cơ chế PAYG có thể sẽ không phải chịu các áp lực và khắc phục được tình trạng
“bị lão hóa” nếu như tốc độ tăng dân số hàng năm vẫn đảm bảo cho tổng thu đóng
góp cân bằng với tổng chi trợ cấp hưu đang tăng lên. Nhưng thực tế, tốc độ tăng
dân số nhìn chung có
xu hướng giảm xuống, nhất là các nước đã phát
triển.
Trong khi
đó, các ưu điểm của cơ chế tài chính có đầu tư khiến cho nhiều nước đã xem xét
cân nhắc và lựa chọn. Tuy nhiên, áp dụng hoàn toàn cơ chế tài chính mới, hay áp
dụng kết hợp, hay vẫn duy trì cơ chế tài chính cũ lại cần phải xem xét các điều
kiện và cơ cấu kinh tế xã hội của đất nước. Ở Chi Lê, Nhà nước thực hiện cải
cách hưu từ năm 1982, trong đó cơ chế tài chính PAYG được áp dụng trước đó đã
được thay bằng cơ chế tài chính có đầu tư. Mặc dù, chuyển sang cơ chế tài chính
có đầu tư là hợp lý và là xu hướng hiện nay nhưng nếu chưa thực sự có môi trường
đầu tư thuận lợi, hệ thống ngân hàng tài chính còn yếu kém, dân số vẫn tăng lên
một cách đáng kể thì việc duy trì cơ chế tài chính PAYG vẫn là hợp
lý.
Ngụ ý cho Việt nam
Hệ thống
bảo hiểm xã hội Việt Nam thực
hiện trợ cấp hưu cũng theo cơ
chế tài chính PAYG ngay từ những ngày đầu thành lập (1962). Ban đầu chỉ có sự
đóng góp của các cơ quan, doanh
nghiệp theo tỷ lệ
4,7% so với quĩ lương đơn vị, không có phần đóng góp của người lao động. Giai
đoạn 1962-1980 có thể coi là giai đoạn thanh niên của hệ thống tài chính PAYG ở
Việt nam. Từ những năm 1980 đến nay, BHXH Việt Nam đã có nhiều sửa đổi bổ sung:
Năm 1987, mức đóng của người sử dụng lao động tăng lên đến 13%; Năm 1995 cải
cách BHXH Việt nam xác định lại đóng góp của cả người lao động và người sử dụng
lao động, trong đó: người sử dụng lao động đóng 15% và người lao động đóng 5%.
Tỷ lệ thay thế (tỷ lệ hưởng)
nhìn chung chưa có
gì thay đổi. Có thể nói, đây là những dấu hiệu cho thấy hệ thống tài chính của
BHXH Việt Nam đang
bước vào giai đoạn già hoá. Theo dự báo
của các chuyên gia thì trong tương lai không xa quỹ hưu của BHXH Việt nam sẽ có
dự phòng bẳng 0. Mặc dù vậy, cơ chế tài chính PAYG đang áp dụng hiện nay vẫn
được coi là hợp lý. Bởi vì, việc thực sự chuyển đổi sang cơ chế tài chính mới
đòi hỏi Việt nam phải giải quyết được một số vấn đề kinh tế quan trọng liên quan
chặt chẽ đến hoạt động của cơ chế có đầu tư. Các vấn đề này có thể là: tự do hóa
nền kinh tế, tăng tốc độ và mức độ tư nhân hóa, tăng cường hạ tầng cơ sở của hệ
thống tài chính. Nếu như chưa có một nền tảng, môi trường tốt cho việc thực hiện
quản lý tài chính theo cơ chế
đầu tư mà đã vội chuyển sang hệ thống này thì không những gây ra hiệu quả ngược
về kinh tế mà còn có thể tạo ra mầm mống khủng hoảng chính
trị.
Tài liệu tham khảo
1. Bộ LĐ-TB-XH ,1999, Tài
liệu tập huấn Tài chính BHXH, Hà
nội
2. ILO,
1997, Social Security Financing, ISBN
92-2-110736-1
3. ILO,
1998, Report the the Government on social protection development
and training – Actuarial valuation of
the Viet
Nam Social Security
Scheme, Geneva (ILO/TF/Viet
Nam/R.24).
4. John
Woodall (ILO), 1996, Tài chính BHXH, Tài liệu hội thảo do
MOLISA tổ chức năm
1996
5. World Bank,
1994, Averting the old age crisis – Policies for protect the old
and promote growth, the World Bank, Oxford University
Press, Washington , D.C.
[1] Đã
đăng trên tạp chí Kinh tế và Phát triển, số tháng
10/2006
[2] Tỷ
lệ phụ thuộc đo lường mức độ phụ thuộc của những người nhận trợ cấp hưu vào
những người đang làm việc tham gia đóng bảo hiểm. Nếu tỷ lệ phụ thuộc càng lớn,
thì gánh nặng trách nhiệm đè lên vai của những người đang đóng góp bảo hiểm càng
lớn, dẫn đến mức đóng góp càng
cao.
[3] Tỷ
lệ thay thế (còn gọi là tỷ lệ hưởng) đo lường khả năng thay thế thu nhập của trợ
cấp hưu khi một người đủ điều kiện để hưởng trợ
cấp.
0 nhận xét